Thư viện bài, chủ đề ‘KHMT và luật pháp’

Tản mạn về sở hữu trí tuệ … lậu [3]

Ngô Quang Hưng | 04 tháng 06, 2007 | Bản để in Bản để in

2. Có lý do nào chính đáng bào chữa cho việc dùng IP lậu?

Để trả lời thỏa đáng câu hỏi này thì ta cần xác định xem “chính đáng” về mặt nào? Có hai phương diện chính: đạo đức và pháp luật. (Có những thứ không phạm pháp nhưng vô đạo đức và ngược lại, do đó hai phương diện này phần nào độc lập nhau.)

2a. Phương diện đạo đức

Việc anh X lấy một sản phẩm không miễn phí về dùng có “bào chữa” được về mặt đạo đức hay không tưởng chừng như đơn giản. Tuy nhiên, suy nghĩ một lúc thì thấy vấn đề phức tạp hơn một chút. Để minh họa cho một mô hình tương đối thô sơ giúp trả lời câu hỏi này, hãy xét một vài ví dụ cụ thể:

  1. Nạn đói đang hoành hành, X nghèo, không còn cách nào khác là đi ăn cắp gạo từ nhà một địa chủ. (Chuyện địa chủ này là người tốt hay xấu không quan trọng.)
  2. Nhà X nghèo, X hay đến giảng đường một đại học tư học ké, không trả tiền.
  3. Nhà X nghèo, X lười lao động, hay đi lấy gạo từ nhà địa chủ ăn.
  4. Đang có bão rất lớn, các cửa hàng không có người trông. Cũng như nhiều người khác, X nhân cơ hội hôi của được một cái Plasma TV to, cái mà bình thường X không có tiền mua. (Xảy ra hồi bão Katrina ở New Orleans.)
  5. X thay điện thoại di động và/hoặc laptop xoành xoạch, nhưng lại dùng các phiên bản Windows và MS Office lậu. (Chú ý rằng giá một hệ điều hành thường rẻ hơn giá một điện thoại di động.)
  6. X chép phần mềm lậu đem bán ngoài chợ.

Nếu phải đặt các ví dụ trên vào một trục, mà một cực là “hành vi bào chữa/chấp nhận được”, và cực kia là “hành vi không bào chữa/chấp nhận được”, thì tôi sẽ đặt các ví dụ trên như sau

trucbaochua.jpg

Tại sao tôi lại xếp hạng các ví dụ này như thế? Có nhiều tham số cho bài toán classification này. Tôi chọn ra hai tham số chính: (1) tính cần thiết của sản phẩm cho X, và (2) khả năng chi trả của X cho sản phẩm này. Hai tham số này sẽ quyết định hành vi của X là bào chữa được hay không. Bản thân tính “bào chữa được” (justifiability) cũng không phải là một biến nhị phân, mà là một spectrum từ “tuyệt đối không bào chữa được đến “tuyệt đối bào chữa được”. Trong ví dụ 1 thì gạo tuyệt đối cần thiết cho X và X không có khả năng chi trả, cho nên bào chữa được. Ví dụ 6 thì hoàn toàn ngược lại. Ví dụ 2 và 4 khác nhau ở chỗ: học lóm là việc cần thiết cho cơ hội tiến thân của X, còn Plasma TV thì không, mặc dù X không có khả năng chi trả cho cả hai thứ.

Khi ta đã nhìn vấn đề bằng mô hình phân loại đơn giản trên, ta có thể thấy các hành vi dùng IP lậu thông thường khá tương đồng với các ví dụ đã dẫn:

  • Chúng ta còn rất nghèo, không có tiền mua sách gốc, dùng e-book để học: giống ví dụ 2.
  • Chúng ta còn rất nghèo, không có tiền mua sách gốc, download e-book truyện Harry Porter mới nhất: giống ví dụ 4.
  • Chúng ta không quá nghèo, đáng lẽ có thể mua CD/DVD được thoải mái, nhưng vẫn download nhạc, phim lậu dùng: giống ví dụ 5.
  • Vân vân.

Chủ đề: KHMT và luật pháp | Bình luận (8) »

Tản mạn về sở hữu trí tuệ … lậu [2]

Ngô Quang Hưng | 30 tháng 05, 2007 | Bản để in Bản để in

1. Tại sao chúng ta dùng các sản phẩm sở hữu trí tuệ lậu nhiều thế?

Ở đây, tôi dùng “chúng ta” vì hai lý do: (1) “chúng ta” đại diện cho một số lượng lớn … chúng ta, và (2) “chúng ta” đại diện cho một vấn đề công cộng. Với mỗi loại sản phẩm sở hữu trí tuệ (viết tắt là IP) như nhạc, phim, games, phần mềm, sách, thì lý do chúng ta dùng đồ lậu có lẽ hơi khác nhau. Thay vì phân tích từng loại IP một, tôi sẽ lấy phần hợp của các lý do và phân tích chung cho tiện. Chú ý rằng đối với từng cá nhân thì các lý do anh/chị ta dùng mỗi loại IP lậu có thể là một hoặc một bộ các lý do dưới đây.

Lý do 1: ta có ít nhiều lợi ích khi dùng IP, trong khi IP lậu giá rất bèo, khả năng bị phạt cực kỳ bé, và chi phí cơ hội của việc dùng đồ gốc cao.

Lợi ích ở đây có thể là giải trí vài phút (chơi games, nghe nhạc, xem phim), thuận tiện cho công tác và học tập (phần mềm, sách vở). Giá bèo bao gồm giá đi mua/chép đĩa lậu ở các cửa hàng, hoặc giá download phần mềm, nhạc, phim, trên Net. Khả năng bị phạt tùy thuộc vào luật pháp và độ nghiêm túc trong hành pháp liên quan đến IP ở nước sở tại. Ở Mỹ rất khó tìm mua một đĩa phần mềm lậu vì giá phải trả cho việc mua, sản xuất, và phân phối phần mềm lậu là rất cao. Trong khi đó, việc download nhạc/phim dùng các mạng P2P vẫn phổ biến vì khả năng bị bắt rất thấp. Nếu sự khác biệt chi phí giữa đồ lậu và đồ gốc tương đối thấp thì tình trạng dùng đồ lậu tràn lan đã không tệ như thế. Một điểm quan trọng tôi muốn nhấn mạnh là: nếu bỏ một, hai, hoặc ba trong bốn yếu tố (a) lợi ích, (b) giá bèo, (c) khó bị phạt, (d) chi phí cơ hội cao, thì lý do 1 sẽ không còn đúng nữa.

Dĩ nhiên, lý do này rất cơ bản và ta thấy nó ở rất nhiều phương diện khác nhau trong kinh tế chính trị loài người. Phạm trù IP (và Việt Nam) không độc quyền sự phạm pháp ở diện rộng.

Lý do 2: văn hóa.

Khi tôi mới vào học đại học, còn dùng các mẻ kho như DOS, Borland Turbo Pascal, thì ý nghĩ rằng tôi đang dùng đồ không phải của mình chưa bao giờ xuất hiện trong đầu. Bây giờ nghĩ lại mới thấy đây là vấn đề văn hóa. Tôi đồng ý với điều bạn linhnam đã viết trong phần lời bình của phần 1 bài này, người Việt chúng ta không có thói quen trả giá cho những sản phẩm sở hữu trí tuệ nói riêng và những sản phẩm “vô hình” nói chung. Như tôi đã nói trong bài đầu tiên, dùng IP lậu, vượt đèn đỏ và xả rác có nhiều điểm tương đồng về mặt văn hóa. Mọi người đều làm thế. Ta cũng làm thế. Tương tự như vậy, các sinh viên đại học trên toàn thế giới download nhạc/phim lậu theo một trào lưu “hip” của giới trẻ mà ít khi suy nghĩ về hành vi của mình. Ian Condry của MIT có một bài về văn hóa dùng nhạc lậu khá hay. Ông so sánh văn hóa dùng nhạc lậu ở Mỹ và ở Nhật, và thái độ của các tập đoàn kinh doanh âm nhạc của hai nước.

Việc hình thành một văn hóa dùng IP lậu là hệ quả trực tiếp của sự thiếu nghiêm minh trong luật pháp và hành pháp liên quan đến sở hữu trí tuệ. Ở nước ta, phim ảnh và sách lậu tràn lan trên thị trường. Thỉnh thoảng có một đợt càn quét nào đó, chủ yếu đi tìm các sản phẩm “nhạy cảm” (về chính trị hoặc thuần phong mỹ tục), rồi đâu lại vào đấy. Cực kỳ khó có thể làm giàu bằng cách viết sách ở Việt Nam.

Lý do 3: dùng IP lậu như một tuyên ngôn chính trị.

Hồi mới sau giải phóng, người ta chuyền tay nhau các “sản phẩm đồi trụy” như truyện chưởng, nhạc vàng. Rồi khi có các hồi ký “nhạy cảm” của các nhà hoạt động chính trị không chính thống, hoặc các tác phẩm văn học bị cấm, người ta cũng chuyền tay nhau. Đây không còn là vấn đề kinh tế vì đa số mọi người chuyền nhau các tác phẩm nọ có đủ khả năng mua chúng nếu được bán rộng rãi. Công bằng mà nói, đôi khi người ta tìm đọc/nghe vì tò mò. Nhưng việc tò mò các tác phẩm bị cấm cũng là một loại tuyên ngôn chính trị. Điểm oái oăm là đa số các “sản phẩm đồi trụy” đó từ từ được hợp pháp hóa. Nhạc Phạm Duy và truyện chưởng là các ví dụ tốt.

Trong lĩnh vực phần mềm, tôi đã nghe có người nói rằng các tập đoàn phần mềm lớn trên thế giới “bóp chẹt” người dùng bằng giá cắt cổ, vì thế họ dùng phần mềm lậu như một cách chống đối. Đó cũng là một tuyên ngôn chính trị, cho dù là tuyên ngôn sai lầm. Nếu không đồng ý với cái status-quo của công nghiệp phần mềm thế giới thì phải làm như Knuth (viết phần mềm TeX miễn phí), như Stallman (viết các PM của GNU, khởi tạo copyleft), hay Torvalds (viết Linux), hay nghìn nghìn vạn vạn các lập trình viên khác đang ngày đêm đóng góp vào phong trào tri thức miễn phí của nhân loại. Nếu một cửa hành bán mỹ phẩm giá cắt cổ thì khách hàng nên đi mua hoặc sáng tạo ra mỹ phẩm khác, hoặc không dùng mỹ phẩm, thay vì đi làm và tiêu thụ các mỹ phẩm nhái của người ta.

Một loại tuyên ngôn chính trị nữa liên quan đến luật copyright của các sản phẩm IP. Copyleftcreative commons license là các ví dụ của xu hướng ngược lại. Ví dụ cụ thể hơn: người ta đã bàn tán khá nhiều về tính vô lý của bộ luật Digital Millenium Copyright Act (DMCA). Các hackers vẫn hack các hệ thống quản trị bản quyền số (DRM) của CD/DVD vì bất đồng chính kiến với loại luật copyright kiểu DMCA. (Dù rằng một trong những hệ quả là DVD lậu vẫn tràn lan.)

Câu hỏi then chốt ở đây là: nếu ta bất đồng ý kiến với một đạo luật nào đó thì việc vi phạm nó có phải là phương cách tốt nhất (hoặc văn minh nhất) để thể hiện chính kiến không? Trong trường hợp nghe nhạc vàng hay đọc sách nhạy cảm thì có lẽ câu trả lời là có. Trong luật copyright các IP thì câu trả lời có lẽ là không.

Có một ví dụ thú vị gần đây liên quan đến đề tài này. AACS là một kỹ thuật dùng để bảo vệ copyright của các HD-DVD và đĩa Blu-ray. Ai đó đã crack cái khóa 128-bit của AACS và phát tán trên Internet. Hồi đầu tháng 5 vừa qua, bọn AACS LA (cơ quan quản lý AACS) gửi thư đến rất nhiều các website đăng tải cái key này yêu cầu họ không được đăng tải cái key này trên website. Một trong những website như vậy là digg.com. Sau khi digg.com tuân thủ yêu cầu của AACS LA, người dùng của digg.com rất tức giận vì họ cho rằng AACS LA dùng sức mạnh luật sư để “bịt miệng” họ, vi phạm quyền tự do ngôn luận trên Internet. Digg.com là website chứa các links được giới thiệu nhiều nhất của người dùng. Link nào càng được giới thiệu nhiều thì sẽ “nổi” lên đầu trang, tương tự như ranking của các search engines. Người dùng digg.com tuyên ngôn bằng cách liên tục giới thiệu các websites chứa cái key của AACS, làm cho cái key này chiếm lĩnh toàn bộ trang chủ của digg.com. Xem thêm các phát triển sau đó ở đây, đây, và đây. Cộng với một bài viết của giáo sư Randy Picker (khoa luật, đại học Chicago) liên quan đến câu hỏi then chốt mới đề cập. Dĩ nhiên, sau vụ này AACS được cập nhật và … tiếp tục bị cracked.

Trong ba lý do trên thì tôi tin chắc rằng lý do 1 đóng góp vào đại đa số việc dùng IP lậu, lý do 2 càng lúc càng yếu, và lý do 3 chỉ áp dụng vào một số rất ít các IP và người dùng. Về văn hóa thì hiện nay Việt Nam đã giao lưu văn hóa đủ để ta biết rằng dùng IP lậu là phạm pháp. Thậm chí ta đã ký cả công ước Berne để “hợp thức hóa” luật IP. Chẳng ai download nhạc của Queen vì một tuyên ngôn chính trị. Ngoài ra, các lý do chính trị thường đòi hỏi một cơ sở lý luận khá sâu sắc mà người dùng thông thường thường không để ý tới. Do đó, các lý do chính trị rất dễ bị sai lầm.

Trong bài tới, tôi sẽ thảo luận câu hỏi số 2: “có lý do gì chính đáng để dùng IP lậu không?” Trên thực tế, tôi sẽ phân tích nhiều hơn về các lý do không chính đáng để dùng IP lậu.

Chủ đề: KHMT và luật pháp | Bình luận »

Tản mạn về sở hữu trí tuệ … lậu [1]

Ngô Quang Hưng | 25 tháng 05, 2007 | Bản để in Bản để in

Steve Ballmer đang đi thăm Việt Nam, đàm phán với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về đề tài mua bản quyền phần mềm (PM) của Microsoft trong các cơ quan nhà nước. Có vẻ như một thỏa thuận nho nhỏ nào đó đã được ký kết, mặc dù chi tiết không được tiết lộ. Việt Nam vẫn đang đứng trên top-5 thế giới về tỉ lệ phần mềm lậu (88%) năm 2006. Không chỉ phần mềm lậu, Việt Nam vốn nổi tiếng là “thiên đường” của các sản phẩm sở hữu trí tuệ (Intellectual Property, viết tắt là IP) … lậu, nhất là phim ảnh, âm nhạc, sách tiếng Anh, và games. Trong khi đó, chúng ta đã ký công ước Berne và nó có hiệu lực từ ngày 26 tháng 10 năm 2004.

Về nguyên tắc, cho dù ta không ký công ước Berne, không gia nhập WTO, thì việc dùng phần mềm, download sách, mua phim, download nhạc/phim/games lậu rõ ràng là việc không nên làm. Common-sense bảo ta như thế. Tương tự như việc vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, hay xả rác ngoài đường phố. Cho dù tất cả mọi người đều xả rác, vượt đèn đỏ, và đi ngược chiều, thì điều đó cũng không làm cho việc xả rác, vượt đèn đỏ, và đi ngược chiều trở nên lẽ đương nhiên. Theo một nghĩa nào đó, tỉ lệ dân số vi phạm trong các ví dụ trên tỉ lệ thuận với trình độ văn minh của một nước. Bạn có thể cãi là đây là vấn đề thuần túy kinh tế, nhưng — về nguyên tắc — nghèo không phải là cái cớ để dùng đồ không phải của mình, để vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, và xả rác. Bạn cũng có thể cãi rằng trình độ văn minh tỉ lệ thuận với GDP, và vì thế vấn đề vẫn là vấn đề kinh tế, nhưng lý luận này lòng vòng tránh vấn đề quá.

Nếu mà lý luận về nguyên tắc thì sẽ không thể “bào chữa” cho việc dùng đồ lậu. Bỏ qua phạm trù nguyên tắc, có vài câu hỏi cơ bản mà tôi sẽ thảo luận trong chuỗi bài này:

  1. Tại sao chúng ta dùng đồ lậu nhiều đến thế?
  2. Có lý do gì chính đáng cho tỉ lệ dùng các sản phẩm trí tuệ lậu nhiều đến thế hay không?
  3. Nếu không thì ta nên làm thế nào?
  4. Các công ty bán các sản phẩm PM, nhạc, phim, sách, … nên làm thế nào?

Trước khi tản mạn về các câu hỏi trên, hãy nói về thực tế của vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ.

Trên thực tế thì tỉ lệ vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung vẫn là rất cao.

Ví dụ, nếu chỉ tính các phần mềm lậu thì theo báo cáo mới nhất của BSA:

While the worldwide weighted average piracy rate is 35%, the median piracy rate is 62%, meaning half of the countries studied have a piracy rate of 62% or higher. In just under one-third of the countries, the piracy rate is higher than 75%.


(Nguồn: http://www.bsa.org/globalstudy/)

Về phim ảnh và âm nhạc thỉ tỉ lệ dùng lậu ở Việt Nam có lẽ tương đương với Trung Quốc: vẫn 90% theo báo cáo này của MPAA năm 2006. Đa phần (60%) Internet traffic là P2P traffic, đa phần P2P traffic chứa nhạc/phim (mà tôi tin chắc là) lậu. (Xem thêm báo cáo cuối năm 2006 của Morgan Stanley về các xu hướng trên mạng.)


(Nguồn ảnh: readwriteweb.com)

Việc download nhạc/phim lậu rất phổ biến trong các khuôn viên đại học. RIAA đã đẩy vấn đề này lên đến quốc hội Mỹ. Nhiều trường đại học đã phải thay đổi chính sách truy cập Internet và phạt các sinh viên download đồ lậu.

Sách vở cũng thế. Bản thân tôi không dùng e-books, nhưng tôi nhớ là có các websites và các torrents để download rất nhiều e-books lậu. (May ra bạn đọc blog có thể cung cấp vài cái links.)

Chủ đề: KHMT và luật pháp | Bình luận (15) »

Google: Nhà lập pháp & hành pháp

Ngô Quang Hưng | 12 tháng 02, 2006 | Bản để in Bản để in

Trích một tin tuần trước của pocket-lint:

Google has flexed its muscles and dropped BMW Germany from its search engine following the German car manufacturer’s attempts to artificially boost its popularity ranking.

Moreover, bmw.com.de’s PageRank, the algorithms that assign every page on the web a sort of popularity ranking, has been reset to zero.

Hay thật. Google dùng thuật toán PageRank cùng với một số heuristics khác để xếp hạng các trang web. “Khách hàng” (trong trường hợp này là bmw.de) tìm ra cách “lừa” thuật toán này để được rank cao hơn (kể cả khi keyword không liên quan gì đến BMW). Google “trừng trị” khách hàng thay vì thiết kế thuật toán hoàn hảo hơn.

Vấn đề có hai mặt: (1) bmw.de không phải là khách hàng của Google, Google thực ra chẳng có bất kỳ một nghĩa vụ nào đối với cả người dùng chúng ta lẫn bọn “khách hàng” kiểu bmw.de (2) các search engines hiện nay vẫn còn chủ yếu là text-based (thay vì context-based, semantics-based).

Trong thời buổi mà thông tin là tiền, là vận mệnh, là rất nhiều thứ quan trọng, thật khó chịu khi có một tổ chức giữ cửa ngõ thông tin toàn cầu mà lại (hầu như) hoàn toàn không có bất kỳ nghĩa vụ nào. Ví dụ, đoạn sau đây trích ra từ Google Terms and Service:

Google disclaims any and all responsibility or liability for the accuracy, content, completeness, legality, reliability, or operability or availability of information or material displayed in the GOOGLE SERVICES results. Google disclaims any responsibility for the deletion, failure to store, misdelivery, or untimely delivery of any information or material. Google disclaims any responsibility for any harm resulting from downloading or accessing any information or material on the Internet through the GOOGLE SERVICES.

Giải pháp: cần một vài search engines nữa tốt tương đương Google. Cạnh tranh là bạn đồng hành tốt nhất của người dùng.

Chủ đề: Chính trị trong ngành & KHMT và luật pháp | Bình luận »

Quan điểm của tòa án tối cao Mỹ về vụ MGM chọi Grokster

Ngô Quang Hưng | 02 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Như đã viết trong bài các thách thức mặt luật pháp của công nghệ P2P, MGM (đại diện cho bên giữ bản quyền của nhiều sản phẩm trí tuệ như các ca/nhạc sĩ, các movie/music studios) kiện Grokster và Streamcast (viết Morpheus).

Hôm 27 tháng 6, tòa án tối cao Mỹ đã trình bày quan điểm của mình: Grokster và Streamcast phải chịu trách nhiệm vì users của họ dùng phần mềm họ phát tán để vi phạm bản quyển. Phán quyết này làm bùng nổ các bình luận trên các blogs.

Tôi vừa đọc qua bản quan điểm của tòa án tối cao. Rất chính xác về mặt kỹ thuật! Lý do chính cho phán quyết này là vì tòa cảm thấy cả Grokster lẫn Streamcast đều biết và thậm chí khuyến khích, giúp đỡ users của họ chép các sản phẩm lậu.

Quan điểm này của tòa án tối cao không trả lời dứt khoát câu hỏi chính: “người viết phần mềm P2P (và các sản phẩm có khả năng bị lạm dụng cho việc xâm phạm bản quyền) có phải chịu trách nhiệm liên đới nếu users của họ vi phạm bản quyền hay không?”

Tòa án cũng xét đến mâu thuẫn mấu chốt: tự do sáng tạo nghệ thuật (nhạc, phim) và tự do sáng tạo công nghệ!

Phán quyết này hứa hẹn nhiều tranh cãi và hậu (hay hệ) quả xã hội sâu sắc. Các nhà sản xuất và phân phối phim/nhạc chắc chắn sẽ đi các bước logic kế tiếp: kiện thêm một mớ công ty/nhóm viết P2P applications nữa.

Chủ đề: KHMT và luật pháp & Mạng máy tính | Bình luận »

Các thách thức về pháp luật của công nghệ P2P

Ngô Quang Hưng | 31 tháng 05, 2005 | Bản để in Bản để in

Các công nghệ/ý tưởng nào có ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc sống đều tạo các thách thức mới về nhiều mặt: kỹ thuật, xã hội, pháp luật, vân vân. Công nghệ peer-to-peer (P2P technology) không là ngoại lệ. Kazaa, Chord, Gnutella (hiện thực bởi Bearshare, Limewire, Morpheus), BitTorrent (hiện thực bởi Morpheus), Tapestry, v.v. là các đại diện phổ biến của các giao thức và ứng dụng P2P mà có lẽ các bạn đã nghe/dùng qua.

Dịp khác ta sẽ bàn về các thách thức về mặt kỹ thuật/thiết kế của P2P. Giáo sư Pamela Samuelson của Berkeley dẫn một seminar với tên gọi “Công nghệ P2P: các thách thức về luật pháp và chính sách“. Dân làm máy tính rất nên biết các thông tin này vì nó có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến khía cạnh pháp luật và chính sách liên quan đến các sản phẩm tương lai của bạn.

Giới kinh doanh âm nhạc/phim ảnh của Mỹ (như RIAA, MGM) đã khởi tạo các vụ kiện gây tiếng vang lớn liên quan đến các sản phẩm P2P như vụ kiện Napster, vụ kiện Aimster, và vụ kiện Grokster gần đây nhất. (Đó là chưa kể đến vụ kiện người sử dụng các dịch vụ P2P.)

Tôi tóm tắt các lập luận và sự kiện có liên quan:

  • Chia sẻ nhạc và phim ảnh trên các mạng P2P với số lượng lớn là xâm phạm bản quyền. Điều này khó có thể chối cãi được. Do đó, nếu có bằng chứng cụ thể, giới kinh doanh nhạc/phim hoàn toàn có thể kiện người dùng (và họ đã làm để dọa).
  • Giới kinh doanh những năm gần đây bắt đầu tiến tới kiện cả những người sản xuất và phân phối các dịch vụ này. Ngoài các vụ đã kể (liên quan đến P2P), còn có vụ phần mềm deCSS dùng để crack DVD của Jon Johansen người Thụy Điển, hay vụ kiện Dmitry Sklyarov với phần mềm crack eBook của Adobe.
  • Câu hỏi chính quanh vấn đề phức tạp này là: “người tạo ra các công nghệ có khả năng bị lạm dụng cho việc vi phạm bản quyền có phải chịu trách nhiệm liên đới hay không?” (trong khi bản thân họ không trực tiếp vi phạm bản quyền).
  • Câu trả lời là không nếu công nghệ này có khả năng lớn để dùng cho các việc không vi phạm (substantial non-infringing uses - SNIUs).
  • Câu trả lời trên không kẻ ranh giới rõ ràng. Một tiền án quan trọng nhất là vụ Sony chọi Universal Studios năm 1984, hay còn gọi là vụ Betamax. Số là máy Betamax của Sony hồi đó có thể dùng để chép lại các phim truyền qua TV, và Universal Studio kiện Sony bán sản phẩm dùng để xâm phạm bản quyền phim. Tòa án tối cao Mỹ phán quyết rằng Betamax có SNIU. Các sản phẩm mới liên quan đến digital TV recording (như TiVo, ReplayTV, UltimateTV) và digital audio recording (như Replay Radio) cũng ở tình trạng tương tự. Đa số các sản phẩm này còn cho phép thu lại các chương trình TV/Radio trong khi bỏ qua các quảng cáo. Giới truyền thông Mỹ đã kiện SonicBlue về vấn đề này, mặc dù các VCR từ những năm 90 đã có chức năng bỏ qua quảng cáo này.
  • Do sự phức tạp đó, giới kinh doanh thắng kiện trong vụ Napster và Aimster, còn vụ Grokster vẫn đang tiếp diễn, hứa hẹn các kết quả thú vị.

Nếu giới kinh doanh thắng kiện liên tục, dân lập trình sẽ phải suy nghĩ thật kỹ trước khi đưa ra sản phẩm mới, xem nó có khả năng bị lạm dụng để xâm phạm bản quyền hay không. Ví dụ, MGM cho rằng sản phẩm nào có đến 90% là để dùng xâm phạm bản quyền thì người sản xuất phải chịu trách nhiệm liên đới (ví dụ 90% các files chia sẻ bởi ứng dụng Grokster là các files lậu). Nếu tòa án chấp nhận lý luận này thì sẽ tạo tiền lệ rất khó chịu. Giả sử một ISP tăng băng thông nhiều lần cho người dùng, nhưng 90% băng thông được dùng để tải các files lậu thì thế nào?

Chủ đề: KHMT và luật pháp & Mạng máy tính | Bình luận »