Thư viện bài, chủ đề ‘Giáo dục’

Dưới đáy tháp Ivory

Ngô Quang Hưng | 15 tháng 07, 2008 | Bản để in Bản để in

Tờ Atlantic mới có một bài hay tuyệt!!! Nhớ đọc hết toàn bài. (Không biết các bạn đọc đã từng dạy hay học tại chức có tìm thấy một vài cảm giác quen thuộc không?)

Trích một đoạn:

I wonder, sometimes, at the conclusion of a course, when I fail nine out of 15 students, whether the college will send me a note either (1) informing me of a serious bottleneck in the march toward commencement and demanding that I pass more students, or (2) commending me on my fiscal ingenuity—my high failure rate forces students to pay for classes two or three times over.

What actually happens is that nothing happens. I feel no pressure from the colleges in either direction. My department chairpersons, on those rare occasions when I see them, are friendly, even warm. They don’t mention all those students who have failed my courses, and I don’t bring them up. There seems, as is often the case in colleges, to be a huge gulf between academia and reality. No one is thinking about the larger implications, let alone the morality, of admitting so many students to classes they cannot possibly pass. The colleges and the students and I are bobbing up and down in a great wave of societal forces—social optimism on a large scale, the sense of college as both a universal right and a need, financial necessity on the part of the colleges and the students alike, the desire to maintain high academic standards while admitting marginal students—that have coalesced into a mini-tsunami of difficulty. No one has drawn up the flowchart and seen that, although more-widespread college admission is a bonanza for the colleges and nice for the students and makes the entire United States of America feel rather pleased with itself, there is one point of irreconcilable conflict in the system, and that is the moment when the adjunct instructor, who by the nature of his job teaches the worst students, must ink the F on that first writing assignment.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (6) »

Lời khuyên của Bjarne Stroustrup

Ngô Quang Hưng | 25 tháng 06, 2008 | Bản để in Bản để in

Trích bài phỏng vấn Bjarne mới đây:

Do you have any advice for up-and-coming programmers?

Know the foundations of computer science: algorithms, machine architectures, data structures, etc. Don’t just blindly copy techniques from application to application. Know what you are doing, that it works, and why it works. Don’t think you know what the industry will be in five years time or what you’ll be doing then, so gather a portfolio of general and useful skills. Try to write better, more principled code. Work to make “programming” more of a professional activity and less of a low-level “hacking” activity (programming is also a craft, but not just a craft). Learn from the classics in the field and the better advanced textbooks; don’t be satisfied with the easily digested “how to” guides and online documentation - it’s shallow.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (1) »

Truyện Trẻ Con

Ngô Quang Hưng | 15 tháng 06, 2008 | Bản để in Bản để in

Tôi có khá nhiều truyện tranh trẻ con của nhà xuất bản trẻ do người nhà gửi tặng.

  • Truyện Tấm Cám đã cắt phần man rợ của Tấm, như vậy người ta đã có cố gắng sửa lại tích cổ, nhưng tôi vẫn thấy rờn rợn về cô Tấm.
  • Truyện Lang Liêu (sự tích bánh chưng bánh giầy) mới trang đầu đã viết: “các con trai khác của vua chỉ lo học văn tập võ, chỉ có Lang Liêu chăm chỉ làm ruộng”. Hừm, tất cả đều là lao động, học văn tập võ có lợi cho kinh tế tri thức và quân sự, các vị khác có gì là xấu đâu? Đoạn này chắc không có trong sự tích nguyên thủy. Trong sự tích nguyên thủy thì ý tưởng bánh chưng bánh giầy do có thần báo mộng. Trong truyện tranh là do Lang Liêu tự nghĩ ra. Phiên bản hiện đại hóa này tốt hơn vì nó đề cao sự sáng tạo của con người, của tổ tiên ta. Nhưng tôi vẫn không thích ở hai điểm: (1) bánh chưng bánh giầy trên thực tế tôi tin là sáng tạo tích lũy của nhiều người, qua nhiều thế hệ, chứ không phải của một Lang Liêu nào đó, (2) vài trăm năm trước công nguyên Eratosthenes không những đã biết quả đất hình cầu mà còn tìm được cách đo chu vi quả đất với độ chính xác đáng kinh ngạc. Lang Liêu nhà ta thì trời tròn (bánh giầy), đất vuông (bánh chưng). Biết là tượng trưng, tôi vẫn không thích.
  • Truyện Tích Chu có chú bé Tích Chu ham chơi không mang nước cho bà uống, nên bà biến thành … chim. Hà hà.
  • Truyện Chú Mèo Đi Hia là một truyện cổ tích của Charles Perrault, trong đó có chú mèo là của thừa kế đã mang lại sự giàu có và quyền lực cho chủ bằng cách lừa đảo hết người này đến người khác. Bài học chắc là như sau: “của thừa kế không quan trọng, miễn là ta làm việc tư duy cực nhọc”; hừm, bao gồm cả lừa đảo và tút-tát bề ngoài để … cua công chúa. Đọc truyện này tôi nhớ đến Trạng Quỳnh: không lao động, chỉ toàn mẹo vặt.
  • Có một truyện hiện đại khác như sau: kiến, ếch, chim là bạn thân. Chúng đi đến ao, mà kiến không sang ao được. Kiến bảo chim đi lấy cái lá thả xuống ao, sau đó ếch bơi đẩy kiến trên lá sang ao. Hà hà, thế là cả ba sang được bờ bên kia vui chơi. Kiến kết luận là “nếu bạn bè chung sức thì làm được việc”. Bài học chắc là khả năng lãnh đạo của kiến :-)

Tôi muốn tìm những truyện dạy cho trẻ con tình người, dạy giá trị của lao động, sáng tạo, problem solving, kích thích trí tưởng tượng.

Tưởng tượng như trong các chú lính chì dũng cảm, con trăn nuốt con voi trong Hoàng Tử Bé, chứ không tưởng tượng một ngày nào đó sẽ có hoàng tử đến thử giày cưới mình làm vợ. Thay vì tưởng tượng làm hoàng tử hay công chúa do phép lạ đem lại, cần những câu chuyện nghịch ngợm thủa ấu thơ như của Richard Feynman, nơi mà óc tò mò và lao động mang lại những thành quả tự nhiên, tốt có, xấu có, nhưng light-hearted. Problem solving và sự sáng tạo của chú khỉ tò mò George chứ không phải kiểu mẹo vặt như Trạng Quỳnh hay chú kiến ở trên. Tình người như trong cô bé bán diêm chứ không hù dọa nhố nhăng là không thương bà thì bà biến thành chim.

Viết và chọn truyện cho trẻ con hẳn là rất khó, nhưng không thể vì thế mà không cố.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (10) »

Tại sao giáo dục đại học VN xuống cấp

Ngô Quang Hưng | 09 tháng 04, 2008 | Bản để in Bản để in

Lại một bài viết rất hay của bác Vũ Quang Việt bên Thời Đại Mới. Các bài khác về giáo dục trong số tháng 3/2008 đều đáng đọc.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận »

Trả lời nhanh một số câu hỏi “gỡ rối tơ lòng”

Ngô Quang Hưng | 05 tháng 03, 2008 | Bản để in Bản để in

Dạo này bận quá không thể trả lời “on-line” được. Tôi cố gắng trả lời nhanh một số câu hỏi gần đây trong bài này. Không đầy đủ như tôi muốn, hy vọng các bạn khác có thể thêm vào. Những câu hỏi tôi không biết câu trả lời thì không ghi lại đây (ví dụ như câu hỏi của bạn CNB về tài liệu ứng dụng ontology gì đó)

Bạn little_cat hỏi:

các thầy cô anh chị ở đây cho em hỏi xíu: ngành CS bậc đại học thì nên học toán gì ạ (có thứ tự học thì càng tốt), vì em thấy nhiều nhánh hay quá (em đang đọc về lambda calculus). Cảm ơn mọi người nhiều.

Trả lời: đọc thêm bài về học KHMT nên đọc sách gì. casino on line legalicasino bonus benvenutoplay blackjack onlineplay baccaratbonus dei casinokeno gratisgioco kenoblackjack in lineaplay slotscasino italia bonusgioco baccaratcasino online comgioco roulette on line,casino on line roulette,roulette on lineslots on lineslots machine,slots machine gratis,giochi gratis slots machineregole gioco roulettecasino italia gratisgiochi roulette,giochi da tavolo roulette,giochi on line roulettegiochi di casino onlinecasino internetsistemi per la roulettegiochi gratis video pokerslots machines gratisprobabilità rouletteamerican roulettestanze di giocogiochi casino,casinos games,casino gamevincere ai casino onlineslots onlinegiochi black jack in lineai video poker,video poker online,video pokerroulette online,casino online roulette,roulette online gratisdei casino onlinegiochi di casino gratisforum casino onlinecasino bonus 10casino gratis slot machine3d roulettecasino on line con bonusslots machinesil gioco della roulettevideo poker gamescasino virtuale,giochi casino denaro virtuale,casino gioco virtualegiochi keno gratisregole baccarattrucchi casino onlinecasino online italianoslots com888 casinocraps gratis Đại khái, tôi nghĩ sinh viên KHMT cần biết phần lớn những thứ sau đây (ít nhất là phần cơ bản của chúng):

  • giải tích (calculus và analysis)
  • đại số tuyến tính (cực kỳ cần cho optimization, statistics, machine learning, v.v.)
  • lý thuyết xác suất (không biết không được!)
  • lý thuyết đồ thị và combinatorics nói chung (cần cho thiết kế thuật toán và xây dựng mô hình giải quyết các vấn đề trong nghiên cứu)
  • thống kê (cần cho machine learning và tất cả cách đề tài nghiên cứu có experiments và simulation)
  • toán ứng dụng (như trong quyển sách của Gilbert Strang),
  • logic cổ điển (cần cho AI và complexity theory)
  • optimization (nhất là convex optimization)
  • đại số trừu tượng và lý thuyết số (cần cho coding theory, cryptography, complexity theory, thiết kế thuật toán, v.v.)

Bạn THT hỏi:

sinh viên mới năm thứ I, II thì nên đọc sách gì về đại số và giải tích ??

Trả lời: về giải tích tôi chưa bao giờ được học chính quy (chỉ tự học), nên không biết sách nào hiện nay là tốt nhất. Tôi rất thích một quyển sách kinh điển của Hardy (A Course of Pure Mathematics), có hầu hết những thứ cơ bản tôi cần biết về giải tích. Về đại số thì blog này đã có lần bàn, bạn sang bài đó xem (quyển của Artin và của Lang).

Bạn Thang có câu hỏi rất hay:

Nhưng không lẽ số phức chỉ là cái mẹo tính toán thôi không liên quan gì đến physical reality? Có cái gì rất reality ẩn sau cặp số (a,b) thuộc trường C thế ?.

Trả lời: tôi không có câu trả lời ngắn (hay dài!) cho câu hỏi này. Nếu suy nghĩ cho kỹ, Thắng sẽ thấy rằng cả số 0, số âm, số hữu tỉ, số (thực) vô tỉ, rồi đến số phức, quaternions, v.v. đều có thể đặt câu hỏi tương tự. Bên vnqf đã có một thread về đề tài này. À, cón căn âm một hay i hay j hay bất kỳ ký hiệu gì chỉ là các ký hiệu mà thôi. Viết sao cũng được.

Thôi, tôi phải quay lại làm việc, mấy hôm tới lại trả lời tiếp các câu hỏi trong “gỡ rối tơ lòng”

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (3) »

Đôi bạn cùng tiến

Ngô Quang Hưng | 06 tháng 12, 2007 | Bản để in Bản để in

Qua Unfogged, biết cái video này:

Nó cho ta một minh họa tuyệt vời của cái gọi là “leo thang chiến tranh”. Nhớ lại hồi còn học phổ thông (cấp 1 & 2) tôi vẫn thường tham gia trò chia phe đánh nhau mỗi giờ nghỉ giữa buổi.

Chủ đề: Giáo dục & Vui - Giải Trí | Bình luận (4) »

Lại Nurture vs. Nature

Ngô Quang Hưng | 26 tháng 11, 2007 | Bản để in Bản để in

Trích bài viết từ Cognitive Daily:

In short, if you want your kids to value helping others in a variety of ways, this research suggests that you’re likely to be effective when you actively encourage those behaviors through conversation, experiential learning, and other actions. This approach appears to be more effective than general parenting philosophies such as demandingness or responsiveness to children’s emotional needs. But of course, as a correlational study, these results alone don’t show that these parenting strategies cause the desired results. It’s possible that kids with better attitudes about helping others inspire more action from their parents.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (2) »

Vàng Anh và trẻ em tập đi

Ngô Quang Hưng | 17 tháng 10, 2007 | Bản để in Bản để in

Sống ở Mỹ, tôi thấy chuyện scandal của Vàng Anh aka Thùy Linh không đáng quan tâm và hoàn toàn không đáng tốn nhiều giấy mực (và công gõ bàn phím và diskspace) đến thế. Hôm kia xem CNN thấy bàn chuyện Paris Hilton đi Rwanda và cô ấy cảm thấy rất buồn, tí nữa thì nôn ọe với bọn CNN xôi thịt rẻ tiền này.

Mặt khác, tôi lại luôn ủng hộ một thị trường thông tin khỏe mạnh (không đồng nghĩa với lành mạnh): có nhiều người có nhu cầu biết Paris Hilton cảm nghĩ gì, thì CNN đăng tin và bình luận. Tôi không thích thì tôi cứ … nôn ọe và chuyển sang kênh khác. Tôi không có quyền và không việc gì phải gây dựng một phong trào “phản đăng tin” về Paris Hilton. Vả lại, có khi cũng phải lấy ngắn nuôi dài, lấy Paris Hilton nuôi Michael Ware.

Chuyện tôi quan tâm và có phần lo lắng là những chuyện khác:

Đọc tiếp toàn bài »

Chủ đề: Giáo dục & Nhân vật và sự kiện | Bình luận (20) »

Giáo dục: bác Việt gửi bác Nhân

Ngô Quang Hưng | 18 tháng 09, 2007 | Bản để in Bản để in

Bác Việt mới có bài mới viết gửi bác Nhân (sẽ đăng trên báo Lao Động nhưng đã/sẽ “được” biên tập). Đọc bản gốc bao giờ cũng khác. Trích một đoạn:

Về chi phí cho giáo dục, Phó Thủ tướng phát biểu: “Ví dụ chi phí của quốc gia, từ ngân sách nhà nước và đóng góp trực tiếp của người dân (qua học phí và chi khác) cho giáo dục ở Mỹ là 2 880 USD/người/năm (năm 2004), còn ở Việt Nam là 50 USD/người/năm (2006). Tức là họ chi cho một người một năm bằng chúng ta chi cho một người 57 năm! ”

Đối thoại lại: Đây là so sánh không hợp lý. Chỉ có thể so sánh một cách hợp lý bằng cách so sánh dựa trên tỷ lệ GDP chi cho giáo dục. Mỹ chi cho giáo dục 7,2% còn ta chi hiện nay ít nhất là 8,3% GDP, cao hơn cả Mỹ.

và đoạn khác mà tôi đồng ý với tinh thần của ý kiến này 2 tay 2 chân, không chỉ riêng cho giáo dục mà nhiều public policies khác nữa:

Để tóm tắt những trao đổi của tôi, tôi đề nghị là nhà nước ta nên thành lập một ủy ban gồm cả các nhà giáo dục, kinh tế tài chính, xã hội học có khả năng chuyên môn, có kinh nghiệm và uy tín, trong và ngoài nước, kể cả người nước ngoài, đánh giá hệ thống giáo dục hiện nay và đề ra một số giải pháp để nhà nước chọn lựa. Chúng ta không nên tiếp tục đưa ra một giải pháp để dân góp ý trong khi chẳng có một nghiên cứu cơ bản và đáng tin cậy nào.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (2) »

Vô chiêu thắng hữu chiêu

Ngô Quang Hưng | 24 tháng 08, 2007 | Bản để in Bản để in

Các mẩu chuyện dưới đây nói về cùng một ý, trả lời cùng một câu hỏi — thế nào là hiểu?

  • Độc cô cửu kiếm rắc rối phức tạp, thông minh như Lệnh Hồ Xung mà học mãi mới được vài thức. Vậy mà đến tuyệt đỉnh thì gã chẳng nhớ thức nào. Trương Tam Phong dạy Trương Vô Kỵ Thái Cực Quyền/Kiếm. Dạy xong chiêu nào lại hỏi “con đã quên chưa”? Tiêu Phong loạn đả Tụ Hiền Trang chỉ cần dùng mấy đường Thái Tổ Trường Quyền ai cũng biết.
  • Quyển blink của Gladwell kể lại đầy rẫy những chuyện mà quyết định trực quan trong tích tắc của một cá nhân dày công rèn luyện là các quyết định đúng đắn và hữu lý đến kinh ngạc.
  • Trong bài “mã hóa tri thức như thế nào“, tôi đã viết rằng khi ta thật sự hiểu một môn học thì trong đầu tôi có một mô hình tái sinh cần cực ít dữ liệu vẫn có thể tái tạo lại nền tảng môn học. Ngoài ra, ta có thể trình bày lại các ý tưởng của môn học một cách rất ngẫu hứng, không cần theo một “giáo trình” xắp sẵn nào cả.
  • Tôi học bơi từ năm lớp 5 ở hồ CLB Lao Động (Xẹc cũ). Tôi bơi được cả 4 kiểu ếch, sải, bướm, ngửa. Ngoại trừ bơi ếch còn tương đối, tôi biết rằng 3 kiểu còn lại tôi chỉ biết hình thức mà không hiểu nội dung — bằng chứng cụ thể nhất là tôi thấy mình bơi rất tốn sức mà lại không hiệu quả. Ví dụ: dân bơi chuyên nghiệp bơi sải trung bình cần 30 sải tay (nghĩa là mỗi tay quạt 15 cái) là bơi được 50 mét, rất nhẹ nhàng và hiệu quả. Mỗi sải tay họ bơi được gần 2 mét!

    Hai tháng vừa qua, tôi đi tìm hiểu thêm để tìm cách tăng hiệu suất bơi sải của mình. Tôi biết hết các kỹ thuật cơ bản của bơi sải: (a) giữ người thẳng tròng trành như một chiếc thuyền dài (b) thở hai bên (nhịp lẻ) và thở dùng cái rãnh nước do đầu tạo ra khi lướt trên mặt nước, (c) khi quạt tay thì có 4 bước là vươn tới, bẻ ngang, kéo, và đẩy, cùng với giữ tay sát người, (d) đá chân thì phải thẳng và có 4 kiểu nhịp chính: 2, 4, 6-nhịp, và 2-nhịp xéo. Bạn xem thử đoạn video clip dưới đây để biết tôi nói gì:


    (Bill Kirby là một nhà vô định Olympic)

    Tôi cố gắng tập hơn một tháng qua và đã giảm được tổng số sải tay trên 50 mét từ 70 sải xuống còn 48 sải, một tiến bộ lớn và tôi rất vui! (Vui không kém gì viết được một bài báo hay!) Thế nhưng tôi vẫn thấy mình biết bơi sải hình thức hơn là hiểu nội dung. Khi bơi vẫn còn phải nhớ các “chiêu” a, b, c, d ở trên. Muốn bơi thật hiệu quả thì phải “cảm” được cơ thể mình và giao tiếp của nó với nước. Bạn muốn xem dân chuyên nghiệp bơi “vô chiêu” không? Hãy xem Alex Popov — khủng hoảng luôn :-)


    (Để ý cú bơi sải thở đằng trước.)

  • Trong quyển Surely you are joking, Mr. Feynman, Richard Feynman kể lại chuyện ông đi Brazil hồi thập niên 50, thấy học sinh Brazil đọc sách Vật Lý nhiều, làm bài kiểm tra rất tốt, nhưng lại khám phá ra rằng họ chẳng hiểu gì về Vật Lý cả. Cuối chuyến đi, Feynman có cơ hội giải thích cho các nhà Vật Lý Brazil tại sao ông lại nghĩ thế, và làm thế nào để cải thiện sách giáo khoa Vật Lý. Tôi trích ra đây vài đoạn trong chương “O Americano, Outra Vez!” (đoạn tôi trích hơi dài, nhưng tôi rất thích vì rất giống tình trạng học tập ở Việt Nam khi tôi còn đi học — các bạn chịu khó đọc)

    The lecture hall was full. I started out by defining science as an understanding of the behavior of nature. Then I asked, “What is a good reason for teaching science? Of course, no country can consider itself civilized unless . . . yak, yak, yak.” They were all sitting there nodding, because I know that’s the way they think.

    Then I say, “That, of course, is absurd, because why should we feel we have to keep up with another country? We have to do it for a good reason, a sensible reason; not just because other countries do.” Then I talked about the utility of science, and its contribution to the improvement of the human condition, and all that - I really teased them a little bit.

    Then I say, “The main purpose of my talk is to demonstrate to you that no science is being taught in Brazil!

    I can see them stir, thinking, “What? No science? This is absolutely crazy! We have all these classes.”

    So I tell them that one of the first things to strike me when I came to Brazil was to see elementary school kids in bookstores, buying physics books. There are so many kids learning physics in Brazil, beginning much earlier than kids do in the United States, that it’s amazing you don’t find many physicists in Brazil - why is that? So many kids are working so hard, and nothing comes of it.

    Then I gave the analogy of a Greek scholar who loves the Greek language, who knows that in his own country there aren’t many children studying Greek. But he comes to another country, where he is delighted to find everybody studying Greek - even the smaller kids in the elementary schools. He goes to the examination of a student who is coming to get his degree in Greek, and asks him, “What were Socrates’ ideas on the relationship between Truth and Beauty?” - and the student can’t answer. Then he asks the student, What did Socrates say to Plato in the Third Symposium?” the student lights up and goes, “Brrrrrrrrr-up” - he tells you everything, word for word, that Socrates said, in beautiful Greek.

    But what Socrates was talking about in the Third Symposium was the relationship between Truth and Beauty!

    What this Greek scholar discovers is, the students in another country learn Greek by first learning to pronounce the letters, then the words, and then sentences and paragraphs. They can recite, word for word, what Socrates said, without realizing that those Greek words actually mean something. To the student they are all artificial sounds. Nobody has ever translated them into words the students can understand.

    I said, “That’s how it looks to me, when I see you teaching the kids ’science’ here in Brazil.” (Big blast, right?)

    Then I held up the elementary physics textbook they were using. “There are no experimental results mentioned anywhere in this book, except in one place where there is a ball, rolling down an inclined plane, in which it says how far the ball got after one second, two seconds, three seconds, and so on. The numbers have ‘errors’ in them - that is, if you look at them, you think you’re looking at experimental results, because the numbers are a little above, or a little below, the theoretical values. The book even talks about having to correct the experimental errors - very fine. The trouble is, when you calculate the value of the acceleration constant from these values, you get the right answer. But a ball rolling down an inclined plane, if it is actually done, has an inertia to get it to turn, and will, if you do the experiment, produce five-sevenths of the right answer, because of the extra energy needed to go into the rotation of the ball. Therefore this single example of experimental ‘results’ is obtained from a fake experiment. Nobody had rolled such a ball, or they would never have gotten those results!

    “I have discovered something else,” I continued. “By flipping the pages at random, and putting my finger in and reading the sentences on that page, I can show you what’s the matter - how it’s not science, but memorizing, in every circumstance. Therefore I am brave enough to flip through the pages now, in front of this audience, to put my finger in, to read, and to show you.”

    So I did it. Brrrrrrrup - I stuck my finger in, and I started to read: “Triboluminescence. Triboluminescence is the light emitted when crystals are crushed..

    I said, “And there, have you got science? No! You have only told what a word means in terms of other words. You haven’t told anything about nature-what crystals produce light when you crush them, why they produce light. Did you see any student go home and try it? He can’t.

    “But if, instead, you were to write, ‘When you take a lump of sugar and crush it with a pair of pliers in the dark, you can see a bluish flash. Some other crystals do that too. Nobody knows why. The phenomenon is called “triboluminescence.”‘ Then someone will go home and try it. Then there’s an experience of nature.” I used that example to show them, but it didn’t make any difference where I would have put my finger in the book; it was like that everywhere.

    Finally, I said that I couldn’t see how anyone could he educated by this self-propagating system in which people pass exams, and teach others to pass exams, but nobody knows anything. “However,” I said, “I must be wrong. There were two students in my class who did very well, and one of the physicists I know was educated entirely in Brazil. Thus, it must be possible for some people to work their way through the system, had as it is.”

    Well, after I gave the talk, the head of the science education department got up and said, “Mr. Feynman has told us some things that are very hard for us to hear, but it appears to he that he really loves science, and is sincere in his criticism. Therefore, I think we should listen to him. I came here knowing we have some sickness in our system of education; what I have learned is that we have a cancer!” - and he sat down. That gave other people the freedom to speak out, and there was a big excitement. Everybody was getting up and making suggestions. The students got some committee together to mimeograph the lectures in advance, and they got other committees organized to do this and that.

    Then something happened which was totally unexpected for me. One of the students got up and said, “I’m one of the two students whom Mr. Feynman referred to at the end of his talk. I was not educated in Brazil; I was educated in Germany, and I’ve just come to Brazil this year.”

    The other student who had done well in class had a similar thing to say. And the professor I had mentioned got up and said, “I was educated here in Brazil during the war, when, fortunately, all of the professors had left the university, so I learned everything by reading alone. Therefore I was not really educated under the Brazilian system.”

    I didn’t expect that. I knew the system was bad, but 100 percent - it was terrible!

    Điều mà Feynman muốn nói cũng chính là điều mà Phong Thanh Dương và Trương Tam Phong dạy bảo: chiêu thức chỉ là hình thức, là các từ mô tả các khái niệm (sóng, hạt, nhiệt, năng lượng), v.v. Biết chiêu thức là chỉ biết cái hình thức mà không biết nội dung. Một học sinh thông minh có thể thao tác cái hình thức (công thức, ký hiệu, tên gọi) để làm bài kiểm tra cho tốt, nhưng điều đó không nhất thiết cho thấy là học sinh nọ thật sự hiểu môn học. Feynman viết một câu thật chí lý: “tôi không thể hiểu được một hệ thống giáo dục khi nó chỉ là một hệ thống tự lan truyền, trong đó người ta thi cử, và dạy học trò mình thi cử“.

    Viết đến đây tôi lại nhớ Tú Xương:

    Tập tễnh người đi tớ cũng đi,
    Cũng lều cũng chõng cũng vào thi.
    Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn,
    Sờ bụng: thầy không một chữ gì!

    Lộc nước còn mong thêm giải ngạch
    Phúc nhà nay được sạch trường qui.
    Ba kì trọn vẹn thêm kì nữa,
    Ú ớ u ơ ngọn bút chì.

  • Bà xã tôi đọc được đoạn bình văn sau đây (xin phép không trích nguồn), bạn đọc xong sẽ hiểu thế nào là “có hình dạng mà thiếu nội dung”:

    Những câu văn của Nguyễn Nguyên Phước rất có thể trở thành đích ngắm cho các nhà ngôn ngữ học purist, nhưng mặt khác, chúng đang chứng minh rằng ngôn ngữ rất không có khuôn mẫu, và không có tính kế thừa nhất định. Và đang thay đổi rất nhanh. Có lẽ đã đến lúc tiếng Việt được cung cấp những khả năng diễn đạt mới mẻ, điều mà ngôn ngữ nào cũng xứng đáng được hưởng.

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Giáo dục & Giới thiệu sách | Bình luận (13) »

Vụ gian lận ở Duke

Ngô Quang Hưng | 13 tháng 05, 2007 | Bản để in Bản để in

Theo Tin

Thirty-eight students were initially investigated, only four of whom were found not guilty of violating the honor code. (Of the 38 students, 37 were accused of cheating and one of lying.) Of the remaining 34 students, 9 will be expelled, 15 will be suspended for one year and receive an F in the class, and the remaining 9 will receive an F in the course. The penalties for the students will not go into effect until June 1, after which students will have 15 days to file an appeal. The school did not release the names of the students involved or name the professor.

National surveys have suggested that cheating is widespread among graduate students. In a survey released last September by a Rutgers University professor, 56 percent of business graduate students admitted having cheated, compared with 54 percent in engineering, 48 percent in education and 45 percent in law school. More than 5,300 students at 54 universities were surveyed from 2002 to 2004.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (4) »

Chuyện bác Nguyễn Thiện Tống

Ngô Quang Hưng | 01 tháng 05, 2007 | Bản để in Bản để in

Trích một bức thư đăng ở mạng giáo dục ngày 13/4 vừa qua với tựa đề “Có một sự thật phũ phàng tại trường Đại học Bách Khoa tp HCM” (đoạn trích sau là một bức thư do Tiến Sĩ Nguyễn Thiện Tống gửi cựu sinh viên khoa Kỹ Thuật Hàng Không):

Ngày 12 tháng 4 năm 2007

Thân gửi các Cựu Sinh viên Kỹ thuật Hàng không,

Theo công văn số 105/QĐ-ĐHBK-TCHC ngày 11 tháng 4 năm 2007, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa quyết định:

Điều 1. Nay để Ông Nguyễn Thiện Tống, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, thôi giữ chức vụ Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không – Khoa Kỹ thuật Giao thông để tập trung công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Điều 2. Ông Nguyễn Thiện Tống có trách nhiệm bàn giao công việc cho người được giao phụ trách Bô môn Kỹ thuật Hàng không.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Đây là kết quả của một qui trình kéo dài hơn 3 tháng qua, từ các cuộc họp đầu tháng 1 năm 2007 đến nay, đặc biệt là cuộc họp Khoa Kỹ thuật Giao thông với Hiệu trưởng ngày 30 tháng 01 năm 2007 mà trong cuộc họp đó ThS Nguyễn Vương Chí (Bí thư Chi bộ khoa) đã trích đọc Nghị quyết ngày 18 tháng 01 năm 2007 của Chi bộ khoa Kỹ thuật Giao thông: “Bộ môn Kỹ thuật Hàng không từ 2000 đến nay không phát triển mà tệ hơn cũ. Ban Chủ nhiệm Khoa phải có sự thay đổi nhân sự Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không để Bộ môn phát triển hơn”

Đến tháng 7 năm 2007 Ban Giám hiệu hiện tại sẽ hết nhiệm kỳ và Ban Giám hiệu mới sẽ có quyết định mới về nhân sự tất cả các khoa, các bộ môn. Mặt khác đến tháng 9 năm 2007 này tôi đến tuổi 60 nên cũng thôi không giữ chức vụ gì nữa, cho nên đương nhiên tôi sẽ không làm Chủ nhiệm Bộ môn nữa, và Ban Giám hiệu mới có thể cử người thay tôi bất cứ lúc nào từ tháng 7 năm 2007.

Việc làm Chủ nhiệm Bộ môn thêm vài tháng hay thôi trước vài tháng đối với tôi chẳng có gì khác biệt lắm, nhưng việc Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa ra quyết định như trên là bất bình thường đối với một người đương nhiên sẽ thôi không giữ chức vụ gì nữa và việc Chi bộ khoa Kỹ thuật Giao thông ra nghị quyết như trên là phủ nhận sự phát triển của Bộ môn Kỹ thuật Hàng không trong thời gian qua.

Tôi thật ngao ngán cho việc xử sự như thế đối với một người đã giảng dạy tận tình 33 năm qua ở Trường và nhất là đã đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng và phát triển Bộ môn Kỹ thuật Hàng không.

Tôi không biết sự thật xung quanh vụ này là như thế nào. Tôi quan tâm đến nó vì vài lẽ:

  1. Đại học BK tpHCM là trường cũ của tôi
  2. Nếu chuyện của bác Tống quả là có xảy ra như vậy thì thật sự rất đáng buồn. Một chi bộ Khoa có quyền hạn và khả năng đánh giá thành bại của một bộ môn sao? Chi bộ là tổ chức chính trị chứ có thẩm quyền gì về giáo dục hay nghiên cứu khoa học đâu? Cứ giả sử như đánh giá này có phần đúng (mặc dù bài đăng trên mạng giáo dục đưa bằng chứng cho thấy nó không đúng), thì trưởng khoa, hiệu trưởng, hay một ban khoa học nào đó của khoa mới nên có chức năng và thẩm quyền làm công việc này, tại sao lại do một anh thạc sĩ bí thư chi bộ “đưa nghị quyết”?
  3. Những ai có dự định xin quay về trường làm việc (Việt Kiều chằng hạn) sẽ nghĩ sao khi mà “sinh mệnh khoa học” và “sinh mệnh giáo dục” của mình sẽ có khả năng được đánh giá qua một tổ chức chính trị thay vì một ban chuyên môn khoa học?

Chủ đề: Chính trị trong ngành & Giáo dục | Bình luận (167) »

Khen trẻ nhỏ như thế nào?

Ngô Quang Hưng | 22 tháng 03, 2007 | Bản để in Bản để in

Quyển sách Mindset: The New Psychology of Success của giáo sư tâm lý Carol Dweck (Standford) sẽ nói về điều này. Tờ New York Magazine có một bài rất hay tóm tắt các kết luận chính của nghiên cứu của Dweck:

  1. Khen “cháu thông minh” quá nhiều (cho dù nó thông minh thật) có thể làm hại tính tự tin của đứa trẻ. Những đứa trẻ nghĩ là mình thông minh có xu hướng sợ thử giải quyết các vấn đề khó khăn, vì nếu nó thất bại nó sẽ nghĩ rằng do nó kém thông minh nên thất bại.

    When students transition into junior high, some who’d done well in elementary school inevitably struggle in the larger and more demanding environment. Those who equated their earlier success with their innate ability surmise they’ve been dumb all along. Their grades never recover because the likely key to their recovery—increasing effort—they view as just further proof of their failure. In interviews many confess they would “seriously consider cheating.”

    Students turn to cheating because they haven’t developed a strategy for handling failure. The problem is compounded when a parent ignores a child’s failures and insists he’ll do better next time. Michigan scholar Jennifer Crocker studies this exact scenario and explains that the child may come to believe failure is something so terrible, the family can’t acknowledge its existence. A child deprived of the opportunity to discuss mistakes can’t learn from them.

    Kết luận này làm tôi nhớ đến vụ có nên học chuyên toán hay không hồi nào. Đối diện và chấp nhận thất bại là một đức tính rất cần thiết cho mọi người, bao gồm học sinh, sinh viên, và đặc biệt là những người làm khoa học. Tôi thất bại hàng ngày hàng giờ trong việc giải quyết các bài toán nảy sinh trong nghiên cứu của mình. Khác với một số ngành nghề khác, những người làm khoa học có khả năng thất bại (không tìm ra lời giải cho một bài toán nào đó) trong một thời gian dài. Andrew Wiles thất niên diện bích mới giải được bài toán Fermat lớn. So với việc lập trình hay xây nhà, ngày nào ta cũng có một thành tựu nhất định nào đó (ví dụ như viết được thêm 1000 dòng lệnh hay xây thêm được một bức tường nhà), thì việc quen chịu đựng được thất bại cả mấy tháng hay mấy năm liền của dân làm khoa học nói chung là một đặc tính khá đặc thù. Học sinh chuyên toán rất quen với thất bại. Có rất nhiều bài toán họ không giải được, và quá trình học chuyên toán luyện cho họ một khả năng “chịu đựng” và “cần cù” tấn công một bài toán trong một thời gian dài. Tôi cho rằng đặc trưng này cực kỳ có lợi cho họ về lâu về dài nếu họ theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học. (Có lẽ hơi thừa, nhưng phải nhấn mạnh rằng “chuyên toán” không phải là con đường duy nhất, ngoài Thiếu Lâm còn có Võ Đang, Vịnh Xuân, Hồng Gia Quyền, Karate, Taekwondo, … để luyện não.)

  2. Khen “cháu làm việc cần cù” (cho nên mang lại một thành quả nào đó) là lời khen rất có ích! Những đứa trẻ tin rằng thành quả của nó là do nó lao động mà có sẽ cố gắng lao động nhiều hơn nữa khi nó thất bại. Lười lao động là cái có thể sửa được, kém thông minh thì (bọn nhỏ nghĩ là) trời sinh ra thế.
  3. Một thông điệp rất quan trọng là bộ não cũng như một bộ cơ bắp, rèn luyện nhiều thì não sẽ làm việc tốt hơn! Tôi hoàn toàn nhất trí với kết luận này. Dĩ nhiên là có một ngưỡng trần cho chiến lược “cần cù bù thông minh”, ví dụ tôi có lao động cả đời cũng không nghĩ ra được thuyết tương đối, nhưng ngưỡng trần này cao hơn vạn lần cái ta tưởng.

    Nhân đây cũng nói luôn là thành ngữ “cần cù bù thông minh” mang hàm ý xấu cho “cần cù” (nghĩa là anh không thông minh lắm nên mới phải làm việc nhiều như thế để bù lại). Ẩn ý này trong thành ngữ là sai lầm nghiêm trọng!

    Cần cù chắc chắn sẽ làm cho bạn và tôi thông minh hơn! Ít nhất, nếu bạn không tin điều này thì có thể hiểu nó theo cách khác: cần cù sẽ làm cho bạn và tôi khai thác trí thông minh của mình triệt để hơn nhiều lần.

    Bên Cosmic Variance có một bài viết rất hay về cần cù, thông minh, và thiên tài. Tôi cũng đã post bài về thiên tài là do rèn luyện. Thomas Edison có câu nói nổi tiếng là “Genius is 1% inspiration and 99% perspiration!”

  4. Những lời khen càng cụ thể thì càng có ích. Ví dụ: khen là con đá bóng không tham bóng, hay chuyền bóng cho bạn, sẽ làm cho con bạn trở thành tiền vệ tốt hơn; thay vì khen chung chung “con đá bóng giỏi quá”. Những lời khen chung chung làm đứa trẻ không biết nó cần phát huy khả năng gì.
  5. Những lời khen “động viên” thiếu tính chân thực sẽ có tác dụng ngược. Ví dụ:

    According to Meyer’s findings, by the age of 12, children believe that earning praise from a teacher is not a sign you did well—it’s actually a sign you lack ability and the teacher thinks you need extra encouragement. And teens, Meyer found, discounted praise to such an extent that they believed it’s a teacher’s criticism—not praise at all—that really conveys a positive belief in a student’s aptitude.

Bài báo ở tờ tạp chí New York kết luận rất tốt. Hãy nghĩ về bộ não của bạn như một bộ cơ bắp và luyện tập nó thường xuyên, sẽ rất có lợi về lâu dài.

Chủ đề: Giáo dục & Giới thiệu sách | Bình luận (7) »

Fuga dei cervelli và ông giáo sư Mông Cổ

Ngô Quang Hưng | 13 tháng 02, 2007 | Bản để in Bản để in

Câu chuyện sau đây, biết qua In Theory và một bản tin ở Nature, rất khôi hài và rất … quen thuộc. Xem bài ở In Theory và Nature để biết thêm chi tiết.

Số là nền khoa học Ý bị chảy máu chất xám, tiếng Ý gọi là fuga dei cervelli. Người giỏi đi nước ngoài làm nhiều, còn các khoa học gia nước ngoài thì lại ít đến Ý làm. Thế là người ta nghĩ ra một kế hoạch. Bắt đầu từ năm 2001, có một quỹ của nhà nước Ý nhằm thu hút chất xám về nước làm việc bằng cách tạo một số visiting positions ở các đại học Ý, mỗi position có thời khoảng 3 năm. Người ta hy vọng rằng nếu ai đó làm việc 3 năm ở Ý thì họ sẽ “bắt rễ” và không đi nước khác làm nữa.

Kế hoạch này nghe rất có lý, cho đến khi ông … quan liêu ghé thăm.

1. Vài năm sau 2001, các đại học Ý bị thiếu hụt tài chính nghiêm trọng do chính phủ kế hoạch kém, thế là hầu như không có đại học nào có tài nguyên để nhận giáo sư mới. À ha! Chất xám chảy về, làm 3 năm, xong rồi bây giớ không có việc.

2. Thế là chính phủ Ý lại nhảy vào làm người hùng cứu Mỹ nhân. Thêm một quỹ nữa được thành lập để tạo các ghế giáo sư cho các “chất xám chảy ngược”. Vấn đề là, các ông quan ở cơ quan gọi là National Council of Universities chỉ cho người ta cái chức bằng hoặc thấp hơn chức ở nước ngoài, trước khi người ta quay trở về Ý làm việc! Nghĩa là bất kể bạn đã có những thành tựu nào khi quay lại Ý làm việc, nếu trước đó bạn chỉ là post-doc thì bây giờ bạn … hừm hừm hưm.

3. Hai vấn đề trên chỉ là chuyện vặt. Có một anh chàng tên là Aldo Colleoni đã nhận được một chức giáo sư có tenure ở đại học Macerata dùng tiền của cái quỹ trên, dù anh ta chưa bao giờ làm việc ở nước ngoài. Anh ta nhận được chức giáo sư vì trước đó anh ấy có vị trí giáo sư ở trường đại học Zokhiomj ở thành phố Ulaanbaatar nước Mông Cổ.

Vấn đề là trên đời này không có cái trường đại học như thế.

Số là Aldo có làm tư vấn gì đó cho chính phủ Mông Cổ, và nhờ đó … chạy được cái giấy chứng nhận giáo sư ở trường đại học Không Tồn Tại.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận »

Quả đấm của Jack Stall

Ngô Quang Hưng | 21 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Mấy tuần qua có vụ cô hoa hậu Mỹ đi chơi uống bia rượu gì đó, xém nữa thì bị tước danh hiệu hoa hậu và các phần thưởng đi đôi với nó. Trong buổi họp báo vài hôm trước, Donald Trump cho rằng cô ấy xứng đáng được cho cơ hội thứ hai, rằng cô ấy là dân tỉnh lẻ Kentuky không quen với các cám dỗ của New York. Cô ấy sẽ học được bài học để đời, và vì thế sẽ là một hoa hậu tốt hơn nữa.

Một trong những bộ phim gần đây tôi cực thích là phim History of Violence. Trong phim, Jack Stall là con trai của Tom Stall. Jack bị một thằng bạn trong trường phổ thông ăn hiếp rất nhiều lần. Một hôm Jack nổi điên đánh thằng này máu me đầm đìa. Khi Tom mắng Jack là đã dùng bạo lực, Jack nói “đánh nó là cách tốt nhất mà người ta có thể đối xử với nó”. Jack hàm ý rằng từ đây trở đi, thằng bạn này sẽ học được bài học để đời, biết vị trí của mình, không ăn hiếp người khác nữa.

Trong hai câu chuyện này, cái “bài học để đời” được “dạy” theo hai cách khác nhau. Cách 1 là cho người ta một cơ hội thứ hai. Cách 2 là không cho nó cơ hội thứ hai, óanh luôn. Cả hai bài học đều hợp lý trong các câu chuyện trên. Nhưng làm sao ta biết khi nào thì nên cho bài học nào?

Khi đi dạy, thỉnh thoảng tôi gặp hoàn cảnh như sau (bao gồm chính học kỳ vừa qua). Một sinh viên X nào đó học kém, xứng đáng được điểm D chẳng hạn. Sau khi tôi cho điểm D, sinh viên này lên năn nỉ sống chết để xin nâng lên điểm C, vì điểm D sẽ làm cho anh ta bị đuổi học, toàn bộ tương lai trước mắt bị đóng cửa vì lớp của tôi.

Thế tôi có nên cho X cơ hội thứ hai không? Tại sao tôi lại tự cho mình cái quyền quyết định này được?

Có những khó khăn sau đây:

  1. Nếu tôi “curve” lại điểm của X thì tôi sẽ phải curve lại điểm của toàn lớp để cho công bằng. Cứ giả sử tôi làm được điều này.
  2. Nâng điểm cho X thì không khó khăn gì, nhưng như thế có công bằng với các sinh viên khác đã từng lấy lớp tôi trong mấy năm trước, bị điểm xấu nhưng không xin xỏ?
  3. Nếu ai cũng nâng điểm thì chẳng hóa ra điểm số trở thành vô nghĩa vì nó không đánh giá đúng thực lực sinh viên. Điều này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng giáo dục của khoa, của trường, và hình ảnh mà các công ty nhìn vào sinh viên của trường. Ví dụ: chẳng lẽ một thằng dốt như thế mà cũng tốt nghiệp được từ trường này ra? Như vậy chẳng hóa ra trường này vớ vẩn?
  4. Quan trọng hơn hết. X là một thành viên trưởng thành của xã hội. Anh ta phải tập chịu trách nhiệm về khả năng và cố gắng học tập của mình. Khi tốt nghiệp (hay bị đuổi) ra đi làm thì người ta sẽ đối xử theo kiểu thị trường với X. Ngoại trừ giáo dục chuyên môn, nhà trường cũng phải có trách nhiệm giáo dục cho X thấy giá trị của sự công bằng, ai cũng phải gánh chịu hậu quả của các chọn lựa của mình.

Vậy đối với X tôi sẽ làm Donald Trump hay là Jack Stall?

Quả đấm của Jack Stall tặng cho X sẽ không chỉ máu me đầm đìa, vì X còn là sinh viên nước ngoài. Toàn bộ hy vọng mà X và cha mẹ đặt vào chuyến du học này của X có thể sẽ tan thành mấy khói. Liệu X có còn tự vực mình dậy được không?

Quả đấm của Jack Stall chỉ thật sự có hiệu quả như một công cụ giáo dục nếu như đối phương rất đau nhưng vẫn đứng dậy được. Sau rốt, môi trường giáo dục không chỉ có nhiệm vụ truyền tải tầm quan trọng của sự công bằng, mà còn phải là môi trường truyền tải tính nhân văn và vị tha.

Nếu vì muốn dạy sự công bằng cho con cái mà cha mẹ anh chị em không bào giờ cho thân nhân lỡ vấp ngã cơ hội thứ hai thì đó không phải là giáo dục con cái trong gia đình mà là quản trị trại lính hay trại giam.

Trường đại học sẽ phải giống một gia đình hơn là một trại lính, trại giam.

Vì thế tôi sẽ làm Donald Trump với X.

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Giáo dục | Bình luận (2) »

Các bài kế »