Thư viện bài, chủ đề ‘Các hội nghị KHMT’

Hội nghị infocom 2007

Ngô Quang Hưng | 13 tháng 05, 2007 | Bản để in Bản để in

Infocom 2007 tổ chức ở Anchorage. Đây là lần thứ hai Anchorage đăng cai Infocom từ đầu thế kỷ 21 đến nay. Thức ăn ở reception, lunch, và dinner là thức ăn ngon nhất trong tất cả các Infocom (và các hội nghị khác) mà tôi đã từng dự. Trừ salmon, halibut, reindeer sausage, và các điểm dã ngoại (đi một vài tiếng mới tới) thì Anchorage rất chán. Vả lại, đường nào thì cũng không có thời gian đi chơi đâu. Tôi nghe người ta than phiền khá nhiều về cơ sở hạ tầng của mấy khách sạn xung quanh hội nghị. Hình dưới là khách sạn tôi ở. Cũng tạm.


Infocom 2008 sẽ ở Phoenix, 2009 ở Rio de Janero, 2010 ở San Diego. Chắc chắn đến một năm nào đó sẽ về đến VN. Tôi sẽ cố.

Don Towsley trình bày bài keynote. Đơn giản, dễ hiểu, và rất thuyết phục. Tiếc rằng tôi quên không ghi lại cái URL các ppt slides của talk này. Trong cuộc họp TCCC, vấn đề mang ToN lên online hoàn toàn cũng được đem ra thảo luận. Đa số mọi người ủng hộ. Cuộc họp TPC của infocom 2008 cũng có vài thứ hay. Douglas Merrill của Google làm general chair. Sẽ thử quay video lại các talks và bỏ lên mạng (youtube hoặc googlevideo).

Cái Panel về future internet design đáng lẽ phải rất hay vì có Dave Clark chủ trì, nhưng cuối cùng một panelist Châu Âu không tới được, còn hai panelists của Japan và Korea thì kiến thức quá chán, chẳng nói được gì mấy. Dave Clark nói những thứ mà ông đã nói nhiều trong các papers gần đây. Tóm lại chẳng học được gì mới. Còn một panel nữa về vehicular networks, tôi rất muốn dự nhưng lại phải báo cáo bài của mình.

Có một mớ hình khác liên quan đến hội nghị tôi để ở đây. Trong reception có một show chó đua, tôi chộp được vài tấm:

Chủ đề: Các hội nghị KHMT | Bình luận (3) »

Student travel award to WoWMoM 2006

Ngô Quang Hưng | 05 tháng 06, 2006 | Bản để in Bản để in

On behalf of the organizing committee of IEEE World of Wireless and Mobile Multimedia Conference to be held in the beautiful, world famous Niagara Falls (NY) between June 26-29, we are pleased to announce that

  1. IEEE Technical Committee on Computer Communications (TCCC) will sponsor 2 student travel awards, each up to $400 USD, for attending WoWMoM’06. The award is open to any full-time student of a degree granting institution, and may be used to cover expenses such as, but not limited to registration, airfare or lodging. Students interested in applying for this award should immediately email to Prof. Chunming Qiao at drqiao01@yahoo.com and cced to Prof. Hung Ngo at hungngo@cse.buffalo.edu, with the subject line: WoWMoM’06.

    The email from the student should briefly state how WoWMoM’06 can help his/her research and degree program, and name the appropriate sessions/workshops (WoWMoM also features two keynotes and a panel), and should be accompanied by a brief support email from their academic advisor with the subject line: “WoWMoM’06 + the student name”.

    The two emails from the student and his/her advisor must be received by Midnight Monday June 12. The two winners will be notified by June 14th. Preferences will be given to students who otherwise would not be attending the conference and based on their academic merits. The travel support money will be directly paid to the students during WoWMoM 2006.”

  2. There will also be an IBM sponsored Student Reception on Tuesday June 27th as a part of the WoWMoM program.

Chủ đề: Các hội nghị KHMT | Bình luận »

Vài hội nghị

Ngô Quang Hưng | 10 tháng 05, 2006 | Bản để in Bản để in

Bạn nào có dịp ghé Niagara Falls tháng 6 này, hoặc ghé Dimacs tuần tới thì ta có thể hẹn uống càfê.

Chủ đề: Các hội nghị KHMT | Bình luận »

AAAI 2005

Đỗ Bình Minh | 27 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Cách đây vài tuần tôi có đi hội nghị AAAI 20005 ở Pittsburgh. Đây là một trong hai hội nghị về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI) lớn nhất năm nay (cùng với IJCAI tại Edinburgh). Vì ở gần CMU nên đầy nhóc robots. Người được mời phát biểu chính lần này là Marvin Minsky, một trong những cha đẻ của ngành AI. Không như những người cùng thời hoặc đã mất (Herbert Simon, Allen Newell) hoặc đi lại đã rất khó khăn (John McCarthy). Marvin Minsky còn rất nhanh nhẹn, nói chuyện hài hước, đánh đàn piano và thử segway trong suốt thời gian hội nghị. Trong suốt vài tuần trước khi đến hội nghị, ông vẫn viết quyển The Emotion Machine mà bản draft có thể đọc ở homepage . Tự nghĩ không biết đến khi mình gần 80 tuổi có còn được lạc quan và nhiệt huyết làm nghiên cứu được như vậy nữa không. Trong bài phát biểu của Marvin, tôi nhớ có nói đến chuyện sự họat động của bộ não thường được so sánh với kỹ thuật tiên tiến nhất của thời đại đó (máy bắn đá thời trung cổ chẳng hạn) và ông nghĩ là máy tính chưa chắc đã phải là công cụ để mô phỏng sự họat động của bộ não một cách tốt nhất, có lẽ cần một theory mới và lấy ví dụ về neocortex. Tôi cũng không hiểu lắm là Marvin muốn nói cụ thể theory nào (vì không phải là neuroscientist) nhưng đồ rằng ông nhắc tới theory của Jeff Hawkins trong quyển sách On Intelligence.

Trong bài phát biểu của Ron Brachman, chủ tịch mới của American Association for Artificial Intelligence, có một câu trong phần kết là “trên lý thuyết, lý thuyết và thực tế là như nhau. Trên thực tế thì không phải như vậy”. Vài năm trước đây nghe câu này chắc tôi chẳng để bụng làm gì, nhưng bây giờ thì cũng bắt đầu đồng cảm với điều đó.

Chủ đề: Các hội nghị KHMT | Bình luận »

Vai trò của conference papers trong khoa học máy tính

Nguyễn Xuân Long | 13 tháng 04, 2005 | Bản để in Bản để in

Vì nhiều lí do lịch sử và bản chất ngành, những xuất bản trong các hội nghị (dưới dạng conference proceedings) trong ngành khoa học máy tính (KHMT) thường được xem có sức nặng tương đương một xuất bản trong một tạp chí. Ví dụ, theo tôi biết thì khoa máy tính đại học Washington , một trong những khoa về CS hàng đầu ở Mỹ, đánh giá một bài báo ở hội nghị AAAI tương đương với tạp chí Journal of Artificial Intelligence Research trong việc xem xét tenure của một giáo sư trong khoa.

Trên thực tế có nhiều công trình của KHMT có tính đột phá được xuất bản đầu tiên dưới dạng một conference proceeding. Mặc dù vậy, có những khác biệt căn bản giữa việc xuất bản trên một tạp chí định kỳ, và việc xuất bản trong một conference proceeding. Sự khác biệt lớn nhất là, vì những lý do hạn chế về mặt thời gian, những bài báo ở hội nghị thường không được đánh giá (review) một cách cẩn thận; vì lý do hạn chế về độ dài bài báo (thường là 6 đến 8 hoặc 10 hoặc 12 trang), nhiều chi tiết quan trọng trong kết quả trình bày thường bị bỏ qua mà vẫn được châm chước. Dẫn đến, nhiều claims trong bài báo có thể bị thổi phồng mà không ai có thể kiểm chứng được.

Điều này có thể dẫn đến hậu quả tai hại đối với một vấn đề nghiên cứu cụ thể nói riêng, cũng như thái độ nghiên cứu nói chung trong KHMT, dễ bị mắc phải cả với những người nghiên cứu lâu năm cũng như những học sinh sinh viên cao học trẻ tuổi: Một công trình nghiên cứu có triển vọng nhưng được thực hiện và trình bày một cách hời hợt vẫn có thể được xuất bản ở những hội nghị có uy tín, và được coi như một xuất bản ở một tạp chí đầu ngành.

Lấy một ví dụ về ngành machine learning , một lĩnh vực mang đậm tính liên ngành (liên quan đến thống kê (statistics), thuật toán (algorithms), lý thuyết thông tin (information theory)), và có ứng dụng rộng khắp trong các vấn đề xử lý dữ liệu (data analysis) trong các ngành khoa học ứng dụng. Một trong những hội nghị có uy tín nhất của ML là NIPS . Để được chấp nhận vào hội nghị này không dễ. Quả thực có khá nhiều ý tưởng, phát hiện có tính đột phá được trình bày từ đây, như sự giới thiệu của thuật toán support vector machines , statistical inference algorithms in graphs, v.v. Mặc dù vậy, rất nhiều bài báo ở NIPS cũng rất tầm thường về nội dung, và người ta quên đi chúng rất nhanh sau khi được xuất bản. Một trong những lý do là format của bài báo chỉ có 6 trang nhỏ (một cột), không đủ để trình bày tỉ mỉ những chi tiết quan trọng về thuật toán, chứng minh, cũng như kết quả thực nghiệm. Những người ở trong ngành đủ lâu đều biết là có những “magic formula” để có thể làm một bài báo được xuất bản ở những hội nghị (kể cả là có uy tín nhất) như thế.

Dầu sao thì NIPS cũng là một hội nghị có uy tín, và được nhiều người đầu ngành đến tham dự, cũng như nhiều sinh viên trẻ đến dự. Nó cũng là một trong những hội nghị thú vị nhất mà tôi hay đến dự. Nhưng sự coi trọng có phần thái quá của giới nghiên cứu ngành KHMT dẫn đến một sự thực là càng ngày càng có nhiều hội nghị vô cùng vớ vẩn về chất lượng. Một chuyện nực cười nhất là vừa qua, một nhóm học sinh KHMT ở MIT đã viết một chương trình tự động có thể viết ra những “research papers” , và ít nhất một bài báo của họ đã được nhận tại một hội nghị với một cái tên rất kêu 9th World Multi-Conference on Systemics, Cybernetics and Informatics . Hội nghị này được tổ chức năm thứ 9, và có đến 2904 bài báo chấp nhận năm naỵ Đây là một trong rất nhiều hội nghị liên quan đến ngành máy tính, được tổ chức bởi một nhóm người đứng ra để thu lời từ tiền registration fee, và được sự ủng hộ của những người mong muốn cải thiện publication records của mình bằng mọi cách.

Có nhiều điều có thể rút ra về câu chuyện này. Có lẽ cần phải có sự điều chỉnh về quan niệm xuất bản ở hội nghị và các tạp chí. Việc đánh giá khả năng bằng số lượng bài báo thay vì chất lượng, sự coi trọng thái quá đối với xuất bản ở hội nghị, đang góp phần dẫn đến sự thờ ơ của nhiều người trong việc tìm cách xuất bản những kết quả nghiên cứu trọn vẹn của mình tới những tạp chí đầu ngành.

Những công trình có giá trị nhất phải là những công trình sẽ giữ được giá trị của nó với thời gian, và do đó, cần phải được thẩm định và xuất bản ở các tạp chí có uy tín. Hạn chế lớn nhất đối với việc xuất bản ở một tạp chí là, thời gian từ lúc nộp bài đến lúc được xuất bản trên một tạp chí có thể rất lâu. Ví dụ với một số tạp chí mà giới làm về machine learning, thống kê hay xử lý dữ liệu hay tham khảo, như
the Annals of Statistics , hay IEEE Transactions on Information Theory có thể mất đến 2 năm. Trong khi đó, với các hội nghị, thời gian đó chỉ khoảng 6 tháng. Hiện tại, các tạp chí điện tử (on-line journals) đang được hình thành để rút ngắn khoảng thời gian turn-around đó.

Chủ đề: Chính trị trong ngành & Các hội nghị KHMT | Bình luận (3) »

Các hội nghị và tỉ lệ nhận bài

Ngô Quang Hưng | 24 tháng 03, 2005 | Bản để in Bản để in

Trong khoa học máy tính, bài báo ở các hội nghị chuyên ngành danh tiếng đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp của các khoa học gia. Được nhận đăng bài ở một số hội nghị hàng đầu khó hơn ở nhiều journals có tiếng. (Xem thêm bài “tản mạn về mảnh bằng Ph.D” tôi viết vài năm trước.) Trong lý thuyết tính toán và giải thuật, ta có STOC, FOCS, SODA; trong cơ sở dữ liệu có SIGMOD, trong datamining có KDD, trong mạng máy tính có INFOCOM, SIGCOMM; vân vân. (Danh sách này không nhất thiết là đủ, nhưng khá đặc trưng cho các ví dụ này.)

Ở nhiều ngành khác (như toán, lý, xã hội học, …) thì các journal papers giá trị hơn nhiều so với các conference papers. Ví dụ: các nhà toán học thường là không ghi các báo cáo ở hội nghị vào trong danh sách bài báo của họ.

Có vài nguyên do của sự “tréo ngoe” này trong ngành khoa học máy tính. Thứ nhất, KHMT phát triển cực nhanh trong vài thập niên gần đây, phần vì nó còn rất trẻ so với các ngành khác. Chờ khi công trình của mình được nhận đăng ở một journal (mất khoảng 1-2 năm) thì kết quả đó đã lỗi thời, thậm chí bản thân tác giả có khi cũng không thích thú gì lắm với nó nữa vì đã có những kết quả tốt hơn trong cùng thời gian. Vòng quay của các hội nghị tốn khoảng 6 tháng (từ khi nộp đến khi đi báo cáo). Thứ hai, đây cũng là vấn đề “văn hóa” của ngành. Thứ ba, hội nghị là một trong những phương tiện tốt nhất để mọi người làm quen, tìm hiểu nghiên cứu của nhau, tìm cơ hội hợp tác nghiên cứu, giới thiệu công trình của mình với thế giới các đồng nghiệp.

Các sinh viên, nhà nghiên cứu, giáo sư nào chưa có bài trong hội nghị lớn của ngành mình thì nói chung là kẻ ngoài cuộc, nghiên cứu không ai biết tới, và sẽ xa rời dòng chảy chính của các nghiên cứu trong ngành. Các bài báo này còn được dùng làm tiêu chí xét tenure, nhận giáo sư mới, thăng cấp giáo sư, vân vân.

Thế làm thế nào để biết là một hội nghị là “có giá” hơn các hội nghị khác? Dĩ nhiên người trong ngành sẽ biết (dù có thể hơi chủ quan nếu có hơn một hội nghị hàng đầu). Người ngoài ngành thì … hỏi người trong ngành. Nếu không có ai để hỏi thì có thể tìm danh sách xếp hạng (ranking) các hội nghị (các danh sách loại này, dù là dựa trên chỉ số nào, cũng đều chủ quan và thiếu giá trị khoa học). Một cách nữa người ta cũng làm là nhìn vào tỉ lệ nhận bài của các hội nghị và danh sách các thành viên trong ủy ban chương trình kỹ thuật của hội nghị (technical program committee, hay TPC).

Thành viên TPC là những người sẽ đọc và quyết định bài nào được nhận, bài nào không. Ở các hội nghị lớn thì chất lượng TPC khá tương đồng. Như vậy chỉ số còn lại là tỉ lệ nhận bài (acceptance ratio). Thế tỉ lệ nhận bài thấp có đồng nghĩa với giá trị cao của hội nghị không? Graham Cormode, Artur Czumaj, và Muthu Muthukrishnan có một bài rất khôi hài (nhưng nghiêm túc) về các hội nghị trong khoa học máy tính và tỉ lệ nhận bài của chúng. Vấn đề chính họ muốn giải quyết là làm thế nào loại nhanh các bài báo tồi để các thành viên TPC đỡ mất thời gian.

Quay lại với câu hỏi trên. Câu trả lời dứt khoát là không. Đồng ý là có một tương quan nhất định giữa tỉ lệ nhận bài và giá trị hội nghị. Hội nghị nào (trong KHMT) có tỉ lệ nhận 50% hay nhiều hơn thì ta có thể tự tin kết luận là hội nghị thường thường bậc trung. Phần còn lại thì rất khó nói. Những năm gần đây, MOBICOM nhận khoảng 8% đến 10%, INFOCOM nhận khoảng 16% đến 18%, còn STOC, FOCS, SODA nhận khoảng 25%-35%. Khó mà nói cái nào giá trị hơn cái nào trong các hội nghị trên, một phần vì chúng ở các nhánh khác nhau.

Lấy STOC và MOBICOM làm ví dụ. Đăng bài trong STOC rất khó, dù tỉ lệ nhận cao hơn MOBICOM khá nhiều. Một lý do là người ta thường không nộp các bài vớ vẩn vào STOC nữa. Ngoài ra chuyện này còn liên quan đến bản chất của ngành nghiên cứu. STOC là hội nghị về lý thuyết, kết quả tốt xấu khá rõ ràng. Ở các hội nghị đăng cả các bài báo thực nghiệm (simulation, experimentation) như mạng máy tính hay datamining thì kế quả không rõ ràng như thế, và sẽ có nhiều chỗ trống hơn cho các bài báo linh tinh. (Dù rằng các hội nghị danh tiếng thường chỉ đăng các bài có cơ sở lý thuyết vững chắc; phần simulation chỉ mang tính xác minh.)

Chuyện dài nhiều tập này xứng đáng vài posts nữa.

Chủ đề: Chính trị trong ngành & Các hội nghị KHMT & Dành cho du học sinh | Bình luận (6) »

Truyền thông nano

Ngô Quang Hưng | 19 tháng 03, 2005 | Bản để in Bản để in

Ở hội nghị INFOCOM vừa qua có một cuộc hội thẩm (panel) về truyền thông nano (nano-communications, dùng để chỉ dạng truyền thông ở tầm vực cực bé). Các hội thẩm viên bao gồm các giáo sư Tatsuya Suda (University of California, Irvine), Ron Weiss (Princeton University), Kamal Abdali (National Science Foundation), các tiến sĩ Satoshi Hiyama (NTT DoCoMo, Japan), và Kazu Oiwa (NICT, Japan).

“Truyền thông nano” dùng để chỉ việc làm sao truyền thông tin bằng các phân tử, vi sinh vật, … dùng các phản ứng sinh hóa (như tín hiệu Ca2+). Để so sánh truyền thông bình thường và truyền thông nano, ta có thể so sánh sóng điện từ và các phân tử, tín hiệu điện và tín hiệu sinh hóa, tốc độ ánh sáng và tốc độ cực chậm trong môi trường sinh hóa, hình ảnh/âm thanh và các trạng thái hóa học. Trong truyền thông nano có các phân tử thông tin như DNAs, proteins, ions, …, và các phân tử tải thông tin (carrier) như rail molecules, hormones, …

Ứng dụng của truyền thông nano khá rộng, từ các máy nano đến các hệ thống chuyển giao DNA và truyền thuốc bằng các tế bào.

Các đề tài nghiên cứu trong truyền thông nano gồm có: (a) thiết kế các phân tử phát (transmitter), phân tử thu (receiver), phân tử tải (carrier); (b) làm thế nào để mã hóa thông tin với các phân tử; (c) làm thế nào có thể điều khiển được việc phóng (emit) thông tin; (d) làm thế nào để nạp thông tin vào trong các phân tử; (e) làm thế nào để lấy thông tin ra khỏi các phân tử; (f) làm thể nào để giải mã thông tin; (g) làm thế nào để dùng lại (recycle) các phân tử thông tin; vân vân.

Bài nói hay nhất (có cả demo) là của Ron Weiss, một giáo sư trẻ của khoa điện tử trường đại học Princeton. Nghiên cứu của Ron là làm thế nào để lập trình các tế bào dùng cho kỹ thuật mô (tissue engineering), biofabrication, biosensing, và nói chung là để hiểu biết các quá trình tự nhiên. Về căn bản, Ron đã có thể thiết kế một số mạch logic (logical circuit) sinh học, theo kiểu các mạch số and/or thông thường.

Các demo nhỏ trong panel này làm tôi tin tưởng hơn vào cái gọi là DNA computing, dù không biết gì về sinh học và hóa học.

Chủ đề: Các hệ thống máy tính & Các hội nghị KHMT & Mạng máy tính | Bình luận »

Hội nghị INFOCOM 2005

Ngô Quang Hưng | 15 tháng 03, 2005 | Bản để in Bản để in

Hội nghị Infocom năm 2005 tổ chức ở Miami, Florida. Một trong hai bài nói chính (keynote speeches) là của tiến sĩ Hossein Eslambolchi, giám đốc nhánh dịch vụ kỹ thuật mạng toàn cầu của AT&T (President of AT&T’s Global Networking Technology Services (GNTS). Ông cũng là CTO và CIO và giám đốc của AT&T Labs.

Eslambolchi nói về cái nhìn tổng thể của ông và của AT&T về các xu hướng kỹ thuật mạng và máy tính trong tương lai gần trên toàn thế giới. Mười xu hướng chính bao gồm:

10. Các mạng cục bộ tại gia (Home LANs) sẽ lan tràn.

9. Khai thác thông tin (information mining) là quan trọng. Ông phân biệt khai thác dữ liệu (data mining) và khai thác thông tin như một tầm mức cao hơn của khai thác dữ liệu. Hiện nay số lượng dữ liệu và thông tin mà AT&T hàng ngày vận chuyển qua mạng của họ là cực kỳ lớn. Ông muốn các thông tin này được dùng để xây dựng các mạng máy tính thông minh hơn.

8. Sự hội tụ của các mạng có và không dây.

7. Các dịch vụ broadband sẽ cực kỳ phổ biến trên thế thới. Một điểm thú vị là định nghĩa về “broadband” ở Mỹ và Nhật/Âu khác nhau. Ở Mỹ chỉ cần cable/dsl với khoảng 1-2Mbps thì đã được gọi là broadband, trong khi xu hướng ở Nhật thì broadband phải đến 25Mbps trở lên.

6. Tính địa phương (locality) sẽ dần biến. Hiện nay các địa chỉ IP vẫn còn có thể được dùng để tìm địa chỉ địa lý, điều này sẽ biến dần trong thời gian không xa. Máy laptop và các thiết bị di động (mobile devices) khác sẽ giữ nguyên một IP bất kể chúng đang ở đâu.

5. Các mạng cảm biến (sensor networks) sẽ lan tràn. IP phiên bản 6 (IPv6) sẽ phải được phổ biến, để ít nhất là theo kịp với sự bùng nổ tổng số địa chỉ IP (cho các cảm biến và các thiết bị khác).

4. Các mạng không dây sẽ đóng vai trò then chốt cho truy cập Internet.

3. Các mạng Ethernet sẽ bùng phát khắp nơi (điểm này khác với số 10).

2. Truyền thông (communications) và ứng dụng (applications) sẽ hội tụ. Theo một nghĩa nhất định, người dùng sẽ không còn ý thức được là họ đang dùng một ứng dụng bình thường hay một ứng dụng truyền thông.

1. IP sẽ ăn tất (IP will eat everything!), theo nghĩa như anh chàng PacMan trong trò chơi điện tử nổi tiếng. IP – Interenet Protocol – là giao thức chính để chuyển dữ liệu trên Internet.

“Mạng thông minh”, “mạng quang học” (optical networks), “mạch chuyển gói quang học” (optical packet switches) được nhấn mạnh nhiều lần như các công nghệ trọng tâm của tương lai.

Bờ biển Miami khá nổi tiếng trong giới sinh viên Mỹ. Kỳ nghỉ xuân bọn họ hay xuống đây chơi. Nước biển khá lạnh, nhưng hoàn toàn có thể bơi được. Khí hậu tuyệt vời, là chỗ nghỉ xuân rất tốt.

Chủ đề: Các hội nghị KHMT & Mạng máy tính | Bình luận »