Sửa chữa sắc đẹp … ảo
Kết quả của một bài báo ở SIGGRAPH’06.


Digital Face Beautification, Tommer Leyvand, Daniel Cohen-Or, Gideon Dror and Dani Lischinski, ACM SIGGRAPH 2006 Technical Sketches.
Kết quả của một bài báo ở SIGGRAPH’06.


Vài ảnh bà xã vừa chụp hôm nay.

Bà Frances E Allen là người thắng giải Turing năm 2006. Chưa có phụ nữ nào thắng giải Fields, và có rất ít phụ nữ được giải Nobel trong các ngành khoa học tự nhiên.
Chuỗi gam trên là chord progression của bài Canon in D. Lần trước tôi có link đến cái video của hài hước gia Rob Paravonian đùa rằng cái chord progression này đi đâu cũng nghe, từ pop, rock, đến blues, country, …
Điều này là thật, vì cái progression này rất hay:
The chord progression (”I V vi iii IV I IV V”) of Pachelbel’s canon has been incorporated into or otherwise influenced many pieces of contemporary popular music. In 1999, pop artist Vitamin C used Canon in D in her Graduation (Friends Forever) in both the verse and the chorus. Other groups that have used this chord progression are The Beatles (”Let It Be”), Green Day (”Basket Case”), Coven (”One Tin Soldier”), Spiritualized (”Ladies and Gentlemen We Are Floating in Space”), Aerosmith (”Cryin’”), DragonForce (”Valley of the Damned”) and Blues Traveler (”Hook”), as well as others.
Theo dòng suy nghĩ này, tôi tự hỏi không biết những bài hát tiếng Việt nào dùng progression này. Hôm qua, sau khi dạo qua dạo lại progression này một lúc, tôi khám phá ra rằng một bài hát rất phổ biến Mỹ Tâm hay hát dùng chính progression này.
Đố bạn biết là bài nào?
Hai đại sư phụ John Williams và Julian Bream có song tấu trong đĩa Together (và sau đó Together Again). Đây là một trong những recording kinh điển của guitar cổ điển. Được xem họ song tấu từ thời 70s thật là thú vị:
Kế đến là độc tấu
Lần cuối cùng tôi ăn tết ở nhà là vào năm một nghìn chín trăm … hồi đó. Tôi nhớ gì về Tết nhỉ?
Lau rửa nhà, bứt lá mai, đánh bóng bát/lư nhang. Chở cành đào, cây tắc. Đổ rác. Rác ngày 30 nhiều vô thiên lủng, chất thành núi ngoài ngã tư gần chợ.
Bánh chưng. Ngồi canh, châm củi nồi bánh chưng thâu đêm. Trẻ con mỗi đứa làm một cái bánh chưng nho nhỏ bằng đậu thừa, nếp rớt, ép không kỹ đến lúc chín nhão nhoẹt.
Gia đình. Chúc tết. Quây quần. Hái lộc, xông nhà, lì xì. Bát miến, bát bóng, đĩa gà luộc, dưa hấu, hạt dưa, bàn thờ.
Pháo chuột, pháo đùng, pháo cối, pháo Chiến Thắng, pháo lép, pháo quấn giấy báo, pháo ướt, pháo … làm giật mình mấy cô áo dài đi mini.
Nắng và sự tĩnh lặng của sáng mùng một. Mùi pháo thoang thoảng.
…
Xì dách, bài cào, cát-tê, bầu cua cá cọp.
Bánh chưng chiên, tôm khô củ kiệu. Mứt gừng. Đến khi tôi chịu ngồi nhà ăn bánh chưng và mứt tết thì biết là tết đã hết. À còn nữa. Bạn nào để ý sẽ thấy cái tết của tôi Bắc Nam búa xua.
Chôm được mấy hình sau từ báo Tuổi Trẻ:
Thân chúc mọi người năm mới thanh thản!
Cha đẻ của kỹ thuật dynamic prorgramming (quy hoạch động) là Richard Bellman. Hồi đầu những năm 50, Bellman làm tư vấn cho RAND Corp, một trong những think tank có ảnh hưởng cực lớn của quân đội Mỹ. (Lý thuyết game, quy hoạch tuyến tính, và nhiều nhánh khác của toán học, kinh tế học hiện đại có phần gốc gác từ RAND.) Hồi đó Bellman đang nghiên cứu về planning, multistage decision process, … và ông khám ra kỹ thuật quy hoạch động. Tuy nhiên, hồi đó bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ là Charles Wilson rất ghét cụm từ “nghiên cứu”, đặc biệt là “nghiên cứu toán học”. Wilson vốn là một kỹ sư giỏi, nhưng sau đó đi làm business (salesman), lên đến tổng giám đốc của General Motors. Trong quyển tiểu sử tự thuật của mình, Bellman giải thích tại sao ông chọn tên “dynamic programming” như sau:
I spent the Fall quarter (of 1950) at RAND. My first task was to find a name for multistage decision processes. “An interesting question is, ‘Where did the name, dynamic programming, came from?’ The 1950s were not good years for mathematical research. We had a very interesting gentlemen in Washington named Wilson. He was Secretary of Defense, and he actually had a pathological fear and hatred of the word, research. I’m not using the term lightly; I’m using it precisely. His face would suffuse, he would turn red, and he would get violent if people used the term, research, in his presence. You can imagine how he felt, about the term, mathematical. The RAND Corporation was employed by the Air Force, and the Air Force had Wilson as its boss, essentially. Hence, I felt I had to do something to shield Wilson and the Air Force from the fact that I was really doing mathematics inside the RAND Corporation. What title, what name, could I choose? In the first place I was interested in planning, in decision making, in thinking. But planning, is not a good word for various reasons. I decided therefore to use the word, ‘programming.’ I wanted to get across the idea that this was dynamic, this was multistage, this was time-varying–I thought, let’s kill two birds with one stone. Let’s take a word that has an absolutely precise meaning, namely dynamic, in the classical physical sense. It also has a very interesting property as an adjective, and that is it’s impossible to use the word, dynamic, in a pejorative sense. Try thinking of some combination that will possibly give it a pejorative meaning. It’s impossible. Thus, I thought dynamic programming was a good name. It was something not even a Congressmann could object to. So I used it as an umbrella for my activities
(Xem thêm bài viết này có nhiều trích đoạn hay từ hồi ký của Bellman.) Đọc đoạn này tôi chợt nhớ đến vụ toán học vô dụng vì nếu Bellman không che giấu cái “nghiên cứu toán học” của ông bằng cái tên khó hiểu, thì đã không có tiền để phát triển một ý tưởng mà ngày nay được dùng rộng rãi trong computational biology, operation research, control theory, … chưa kể ít nhất một nửa cái Internet ta dùng hàng ngày đang chạy Distance Vector protocol theo thuật toán Bellman-Ford, một thuật toán quy hoạch động.
Câu chuyện sau đây, biết qua In Theory và một bản tin ở Nature, rất khôi hài và rất … quen thuộc. Xem bài ở In Theory và Nature để biết thêm chi tiết.
Số là nền khoa học Ý bị chảy máu chất xám, tiếng Ý gọi là fuga dei cervelli. Người giỏi đi nước ngoài làm nhiều, còn các khoa học gia nước ngoài thì lại ít đến Ý làm. Thế là người ta nghĩ ra một kế hoạch. Bắt đầu từ năm 2001, có một quỹ của nhà nước Ý nhằm thu hút chất xám về nước làm việc bằng cách tạo một số visiting positions ở các đại học Ý, mỗi position có thời khoảng 3 năm. Người ta hy vọng rằng nếu ai đó làm việc 3 năm ở Ý thì họ sẽ “bắt rễ” và không đi nước khác làm nữa.
Kế hoạch này nghe rất có lý, cho đến khi ông … quan liêu ghé thăm.
1. Vài năm sau 2001, các đại học Ý bị thiếu hụt tài chính nghiêm trọng do chính phủ kế hoạch kém, thế là hầu như không có đại học nào có tài nguyên để nhận giáo sư mới. À ha! Chất xám chảy về, làm 3 năm, xong rồi bây giớ không có việc.
2. Thế là chính phủ Ý lại nhảy vào làm người hùng cứu Mỹ nhân. Thêm một quỹ nữa được thành lập để tạo các ghế giáo sư cho các “chất xám chảy ngược”. Vấn đề là, các ông quan ở cơ quan gọi là National Council of Universities chỉ cho người ta cái chức bằng hoặc thấp hơn chức ở nước ngoài, trước khi người ta quay trở về Ý làm việc! Nghĩa là bất kể bạn đã có những thành tựu nào khi quay lại Ý làm việc, nếu trước đó bạn chỉ là post-doc thì bây giờ bạn … hừm hừm hưm.
3. Hai vấn đề trên chỉ là chuyện vặt. Có một anh chàng tên là Aldo Colleoni đã nhận được một chức giáo sư có tenure ở đại học Macerata dùng tiền của cái quỹ trên, dù anh ta chưa bao giờ làm việc ở nước ngoài. Anh ta nhận được chức giáo sư vì trước đó anh ấy có vị trí giáo sư ở trường đại học Zokhiomj ở thành phố Ulaanbaatar nước Mông Cổ.
Vấn đề là trên đời này không có cái trường đại học như thế.
Số là Aldo có làm tư vấn gì đó cho chính phủ Mông Cổ, và nhờ đó … chạy được cái giấy chứng nhận giáo sư ở trường đại học Không Tồn Tại.
Lại thêm một tản văn hay của chị Vàng Anh. Bạn đừng hỏi tôi có thấy mình trong đó không :-).
Qui luật ở đây là: “Phải biết tình trạng mà giao việc”. Thất bại lúc nãy là do mình tưởng cái tay đau vẫn làm được việc của một cái tay lành, trong khi nó còn có những vấn đề của nó. Vấp phải cục đá, phản xạ của nó là thu lại để bảo vệ chính nó khỏi đau, việc giữ cái bóng đèn kia chỉ là phụ… Dùng người thì cũng thế thôi… Nghĩ xong, Lưu thấy mình đúng là “bản lĩnh đàn ông”. Đàn ông hơn đàn bà ở chỗ đó. Trong thất bại bao giờ cũng rút ra được bài học. Đàn bà thì không bao giờ rút ra được bài học, chỉ giỏi rút ra được một câu chuyện để kể cho mấy con mụ đồng nghiệp nghe vào ngay ngày hôm sau.
Bài survey mới (Ross Anderson and Tyler Moore) về kinh tế của bảo mật thông tin. Một phiên bản ngắn hơn đã đăng ở Science. (Biết qua Schneier on Security.)
Pachelbel Canon in D. Không phải tầm thường! Cảm ơn anh Nghị đã cho link.
Sau come away with me rất pop, feels like home rất cá nhân, thì album mới ra Not Too Late của cô nhắm vào những đề tài “thế giới thực” hơn. Tôi rất thích Sinkin’ soon và My Dear Country.
The U.S. Coast Guard said early today that it has decided to continue and expand its search for missing Microsoft engineer Jim Gray in an operation that now stretches from north of the Oregon border to the Channel Islands, west of Santa Barbara.