Đơn xin việc: research interests

Ngô Quang Hưng | 27 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Bắt đầu vào mùa xét đơn, phỏng vấn, tuyển profs mới. Trong một application gửi vào khoa tôi, có anh chàng kia ghi research interests của anh ta thế này:

Algorithms; Software Engineering; Sensor Networks; Machine Learning; Bioinformatics; Artificial Intelligence; Networks; DNA Microarray, optimization, classification, Linear Programming, C++, Java, Unix, Linux, System, Perl, R, Design patterns, workflow, routing, CAD, statistics, Random Forest, SVM.;

Thứ nhất là anh này lẫn lộn giữa “research interests” và danh sách những thứ anh ta biết (sơ sơ). Và danh sách trên có những thứ là tập con của thứ kia, chứng tỏ anh ta chỉ vứt vào đấy các từ khóa ngẫu nhiên mà không hiểu mình đã viết gì.

Thứ hai là nếu danh sách research interests của bạn dài hơn khoảng 4, 5 mục thì nhiều khả năng bạn chẳng giỏi bất kỳ mục nào. Khi đã ra trường khoảng chục năm, may ra ta mới thêm được vài nhánh/hướng research mới. Nội chuyện đọc sách vở và papers cho một nhánh mới cho đến khi biết đủ để viết phần introduction trong các papers đã mất một hai năm. (Introduction có ý tưởng đàng hoàng chứ không phải introduction chôm từ vài papers khác.) Vì thế, 5 năm học Ph.D xong mà có đến hơn 4, 5 research interests là chuyện không tưởng.

Công bằng mà nói, cụm từ “research interests” dễ gây hiểu lầm. Research interests trong CV của ta không phải là danh sách những thứ ta thích, mà là danh sách những thứ ta đã và đang thật sự làm. (Chỉ đôi khi cộng thêm một hai thứ ta thật sự muốn làm.) Nếu chỉ tính về mặt ngữ nghĩa, không có gì cấm cản bạn có 100 research interests khác nhau.

Khi employer nhìn vào research interests của bạn, họ tìm cái gì trong đó? (Đoạn sau đây chỉ áp dụng cho một application thông thường. Nếu bạn cực giỏi thì những thứ sau không nhất thiết chính xác.)

Họ tìm một người có interests (nghĩa là đã, đang làm, và làm hiệu quả) có thể bổ túc cho một góc nào đó mà họ thiếu, họ tìm người có thể collaborate với nhiều faculty members trong khoa, họ tìm người có nhiều khả năng mang lại nhiều research funding (những ngành “hot” như bioinformatics, security).

Họ tìm một người có nền tảng tri thức vững chắc về một hai nhánh cực cơ bản nào đó của KHMT. Nếu interest của bạn chỉ toàn nhũng nhánh ứng dụng, phần ngọn nhiều hơn phần gốc, thì đơn của bạn chắc sẽ không tạo ấn tượng ban đầu tốt lắm. Ví dụ: Baysian techniques for anomaly detection thì tốt hơn là Baysian spam filters.

Tóm lại cái CV nhiều khả năng là văn bản đầu tiên về bạn mà employer sẽ đọc. Research interests là một trong những dòng đầu tiên của CV. Ghi gì vào dòng này thì nên nghĩ thật kỹ. Xin việc cũng như làm salesman cho chính bản thân, cái bao bì cũng rất quan trọng.

Chủ đề: Dành cho du học sinh |

Ghi lời bình của bạn: