Thư viện bài tháng 12 năm 2006

Một kho nhạc rock 60-80

Ngô Quang Hưng | 29 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

http://www.wolfgangsvault.com/

Rất tiếc là không có nhạc của Queen. Bây giờ tìm đâu ra một Freddie Mercury thứ hai?

Chủ đề: Trang web hay & Âm Nhạc | Bình luận »

Hậu quả của việc thuê hacker

Ngô Quang Hưng | 28 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Một phụ tá truyền thông của nghị sĩ bang Montana tìm cách thuê một hacker hack vào database của trường anh ta để đổi điểm GPA. Kết quả là hacker này post toàn bộ nội dung trao đổi (22 emails) lên mạng. Trong các trao đổi này, tay “hacker” chơi xỏ anh chàng phụ tá xấu số. Hài cực!

Hacker: Hey, squirrels work fine. First, let’s be clear. You are soliciting me to break the law and hack into a computer across state lines. That is a federal offense and multiple felonies. Obviously I can’t trust anyone and everyone that mails such a request, you might be an FBI agent, right?

So, I need three things to make this happen:

1. A picture of a squirrel or pigeon on your campus. One close-up, one with background that shows buildings, a sign, or something to indicate you are standing on the campus.

2. The information I mentioned so I can find the records once I get into the database.

3. Some idea of what I get for all my trouble

Phụ tá: OK. The pictures might take me a little while as I’ve been out of school for a few years and I don’t live in
that state anymore. I will supply the other info with the pictures unless you request otherwise. What is a typical fee for this kind of work? Understanding the risk involved to both of us, I want to adequately take care of you, but I’d also like to know if you’ve ever
performed a similiar task before. A simple yes or no would suffice,I don’t need or want details. Most importantly, as I’m sure you have the skill, but do you have the necessary technology to do this without drawing attention to either of us?

(Biết qua Schneier on Security)

Chủ đề: Bảo mật và mật mã học & Vui - Giải Trí | Bình luận (2) »

Đơn xin việc: research interests

Ngô Quang Hưng | 27 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Bắt đầu vào mùa xét đơn, phỏng vấn, tuyển profs mới. Trong một application gửi vào khoa tôi, có anh chàng kia ghi research interests của anh ta thế này:

Algorithms; Software Engineering; Sensor Networks; Machine Learning; Bioinformatics; Artificial Intelligence; Networks; DNA Microarray, optimization, classification, Linear Programming, C++, Java, Unix, Linux, System, Perl, R, Design patterns, workflow, routing, CAD, statistics, Random Forest, SVM.;

Thứ nhất là anh này lẫn lộn giữa “research interests” và danh sách những thứ anh ta biết (sơ sơ). Và danh sách trên có những thứ là tập con của thứ kia, chứng tỏ anh ta chỉ vứt vào đấy các từ khóa ngẫu nhiên mà không hiểu mình đã viết gì.

Thứ hai là nếu danh sách research interests của bạn dài hơn khoảng 4, 5 mục thì nhiều khả năng bạn chẳng giỏi bất kỳ mục nào. Khi đã ra trường khoảng chục năm, may ra ta mới thêm được vài nhánh/hướng research mới. Nội chuyện đọc sách vở và papers cho một nhánh mới cho đến khi biết đủ để viết phần introduction trong các papers đã mất một hai năm. (Introduction có ý tưởng đàng hoàng chứ không phải introduction chôm từ vài papers khác.) Vì thế, 5 năm học Ph.D xong mà có đến hơn 4, 5 research interests là chuyện không tưởng.

Công bằng mà nói, cụm từ “research interests” dễ gây hiểu lầm. Research interests trong CV của ta không phải là danh sách những thứ ta thích, mà là danh sách những thứ ta đã và đang thật sự làm. (Chỉ đôi khi cộng thêm một hai thứ ta thật sự muốn làm.) Nếu chỉ tính về mặt ngữ nghĩa, không có gì cấm cản bạn có 100 research interests khác nhau.

Khi employer nhìn vào research interests của bạn, họ tìm cái gì trong đó? (Đoạn sau đây chỉ áp dụng cho một application thông thường. Nếu bạn cực giỏi thì những thứ sau không nhất thiết chính xác.)

Họ tìm một người có interests (nghĩa là đã, đang làm, và làm hiệu quả) có thể bổ túc cho một góc nào đó mà họ thiếu, họ tìm người có thể collaborate với nhiều faculty members trong khoa, họ tìm người có nhiều khả năng mang lại nhiều research funding (những ngành “hot” như bioinformatics, security).

Họ tìm một người có nền tảng tri thức vững chắc về một hai nhánh cực cơ bản nào đó của KHMT. Nếu interest của bạn chỉ toàn nhũng nhánh ứng dụng, phần ngọn nhiều hơn phần gốc, thì đơn của bạn chắc sẽ không tạo ấn tượng ban đầu tốt lắm. Ví dụ: Baysian techniques for anomaly detection thì tốt hơn là Baysian spam filters.

Tóm lại cái CV nhiều khả năng là văn bản đầu tiên về bạn mà employer sẽ đọc. Research interests là một trong những dòng đầu tiên của CV. Ghi gì vào dòng này thì nên nghĩ thật kỹ. Xin việc cũng như làm salesman cho chính bản thân, cái bao bì cũng rất quan trọng.

Chủ đề: Dành cho du học sinh | Bình luận »

Peter Singer viết về làm từ thiện

Ngô Quang Hưng | 24 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Bài viết của Peter Singer tuần trước trên tờ New York Times hay cực. Ông viết về đạo đức, từ thiện, trách nhiệm, giàu và nghèo, … Có vài đoạn đáng chú ý:

Interestingly, neither Gates nor Buffett seems motivated by the possibility of being rewarded in heaven for his good deeds on earth. Gates told a Time interviewer, “There’s a lot more I could be doing on a Sunday morning” than going to church. Put them together with Andrew Carnegie, famous for his freethinking, and three of the four greatest American philanthropists have been atheists or agnostics. (The exception is John D. Rockefeller.) In a country in which 96 percent of the population say they believe in a supreme being, that’s a striking fact. It means that in one sense, Gates and Buffett are probably less self-interested in their charity than someone like Mother Teresa, who as a pious Roman Catholic believed in reward and punishment in the afterlife.

Người khá giả có trách nhiệm làm từ thiện hay không? Có:

people can earn large amounts only when they live under favorable social circumstances, and that they don’t create those circumstances by themselves. I could have quoted Warren Buffett’s acknowledgment that society is responsible for much of his wealth. “If you stick me down in the middle of Bangladesh or Peru,” he said, “you’ll find out how much this talent is going to produce in the wrong kind of soil.” The Nobel Prize-winning economist and social scientist Herbert Simon estimated that “social capital” is responsible for at least 90 percent of what people earn in wealthy societies like those of the United States or northwestern Europe.

Còn ý tưởng sau đây tôi đã nghĩ về nó nhiều lần, và cuối cùng phải công nhận là bản thân mình không sống tuyệt đối nhất quán về đạo đức:

Thomas Pogge, a philosopher at Columbia University, has argued that at least some of our affluence comes at the expense of the poor. He bases this claim not simply on the usual critique of the barriers that Europe and the United States maintain against agricultural imports from developing countries but also on less familiar aspects of our trade with developing countries. For example, he points out that international corporations are willing to make deals to buy natural resources from any government, no matter how it has come to power. This provides a huge financial incentive for groups to try to overthrow the existing government. Successful rebels are rewarded by being able to sell off the nation’s oil, minerals or timber.

In their dealings with corrupt dictators in developing countries, Pogge asserts, international corporations are morally no better than someone who knowingly buys stolen goods

Trong bài còn rất nhiều ý hay, bạn nên đọc hết.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Các câu hỏi phỏng vấn [23]

Ngô Quang Hưng | 23 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

  1. Có một mớ bánh ngọt với tổng cân nặng không hơn 2kg. Mỗi cái bánh nặng ít hơn 1kg. Chứng minh rằng ta có thể chia mớ bánh này ra thành nhiều nhất là 4 phần, mỗi phần có tổng cân nặng nhiều nhất là 1kg. (Không được cắt bánh ra.) Có thể nào luôn chia được thành nhiều nhất 3 phần thỏa điều kiện trên không?
  2. Cho n số nguyên dương đặt trên một đường tròn. Thay mỗi số bằng trị tuyệt đối của số đi sau trừ đi chính nó, theo chiều kim đồng hồ. Dừng lại khi tất cả các số bằng 0. Chứng minh rằng với n=5 thì ta có thể không dừng được. Với n=4 thì ta luôn dừng.
  3. Gọi S là một tập 10 số khác nhau giữa 1 và 100. Chứng minh rằng S có hai tập con không giao nhau với tổng bằng nhau.

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Vui - Giải Trí | Bình luận (10) »

Quả đấm của Jack Stall

Ngô Quang Hưng | 21 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Mấy tuần qua có vụ cô hoa hậu Mỹ đi chơi uống bia rượu gì đó, xém nữa thì bị tước danh hiệu hoa hậu và các phần thưởng đi đôi với nó. Trong buổi họp báo vài hôm trước, Donald Trump cho rằng cô ấy xứng đáng được cho cơ hội thứ hai, rằng cô ấy là dân tỉnh lẻ Kentuky không quen với các cám dỗ của New York. Cô ấy sẽ học được bài học để đời, và vì thế sẽ là một hoa hậu tốt hơn nữa.

Một trong những bộ phim gần đây tôi cực thích là phim History of Violence. Trong phim, Jack Stall là con trai của Tom Stall. Jack bị một thằng bạn trong trường phổ thông ăn hiếp rất nhiều lần. Một hôm Jack nổi điên đánh thằng này máu me đầm đìa. Khi Tom mắng Jack là đã dùng bạo lực, Jack nói “đánh nó là cách tốt nhất mà người ta có thể đối xử với nó”. Jack hàm ý rằng từ đây trở đi, thằng bạn này sẽ học được bài học để đời, biết vị trí của mình, không ăn hiếp người khác nữa.

Trong hai câu chuyện này, cái “bài học để đời” được “dạy” theo hai cách khác nhau. Cách 1 là cho người ta một cơ hội thứ hai. Cách 2 là không cho nó cơ hội thứ hai, óanh luôn. Cả hai bài học đều hợp lý trong các câu chuyện trên. Nhưng làm sao ta biết khi nào thì nên cho bài học nào?

Khi đi dạy, thỉnh thoảng tôi gặp hoàn cảnh như sau (bao gồm chính học kỳ vừa qua). Một sinh viên X nào đó học kém, xứng đáng được điểm D chẳng hạn. Sau khi tôi cho điểm D, sinh viên này lên năn nỉ sống chết để xin nâng lên điểm C, vì điểm D sẽ làm cho anh ta bị đuổi học, toàn bộ tương lai trước mắt bị đóng cửa vì lớp của tôi.

Thế tôi có nên cho X cơ hội thứ hai không? Tại sao tôi lại tự cho mình cái quyền quyết định này được?

Có những khó khăn sau đây:

  1. Nếu tôi “curve” lại điểm của X thì tôi sẽ phải curve lại điểm của toàn lớp để cho công bằng. Cứ giả sử tôi làm được điều này.
  2. Nâng điểm cho X thì không khó khăn gì, nhưng như thế có công bằng với các sinh viên khác đã từng lấy lớp tôi trong mấy năm trước, bị điểm xấu nhưng không xin xỏ?
  3. Nếu ai cũng nâng điểm thì chẳng hóa ra điểm số trở thành vô nghĩa vì nó không đánh giá đúng thực lực sinh viên. Điều này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng giáo dục của khoa, của trường, và hình ảnh mà các công ty nhìn vào sinh viên của trường. Ví dụ: chẳng lẽ một thằng dốt như thế mà cũng tốt nghiệp được từ trường này ra? Như vậy chẳng hóa ra trường này vớ vẩn?
  4. Quan trọng hơn hết. X là một thành viên trưởng thành của xã hội. Anh ta phải tập chịu trách nhiệm về khả năng và cố gắng học tập của mình. Khi tốt nghiệp (hay bị đuổi) ra đi làm thì người ta sẽ đối xử theo kiểu thị trường với X. Ngoại trừ giáo dục chuyên môn, nhà trường cũng phải có trách nhiệm giáo dục cho X thấy giá trị của sự công bằng, ai cũng phải gánh chịu hậu quả của các chọn lựa của mình.

Vậy đối với X tôi sẽ làm Donald Trump hay là Jack Stall?

Quả đấm của Jack Stall tặng cho X sẽ không chỉ máu me đầm đìa, vì X còn là sinh viên nước ngoài. Toàn bộ hy vọng mà X và cha mẹ đặt vào chuyến du học này của X có thể sẽ tan thành mấy khói. Liệu X có còn tự vực mình dậy được không?

Quả đấm của Jack Stall chỉ thật sự có hiệu quả như một công cụ giáo dục nếu như đối phương rất đau nhưng vẫn đứng dậy được. Sau rốt, môi trường giáo dục không chỉ có nhiệm vụ truyền tải tầm quan trọng của sự công bằng, mà còn phải là môi trường truyền tải tính nhân văn và vị tha.

Nếu vì muốn dạy sự công bằng cho con cái mà cha mẹ anh chị em không bào giờ cho thân nhân lỡ vấp ngã cơ hội thứ hai thì đó không phải là giáo dục con cái trong gia đình mà là quản trị trại lính hay trại giam.

Trường đại học sẽ phải giống một gia đình hơn là một trại lính, trại giam.

Vì thế tôi sẽ làm Donald Trump với X.

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Giáo dục | Bình luận (2) »

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Ngô Quang Hưng | 19 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Câu chuyện cảm động quá! Chợt nhớ Nguyễn Duy:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa …

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò … sung chát đào chua …
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ … mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta — chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện | Bình luận (1) »

Google tếu thật

Ngô Quang Hưng | 19 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Thỉnh thoảng xem thống kê về truy cập blog KHMT, tôi vẫn chú ý xem thử các từ khóa nào tìm ở Google thì blog KHMT là câu trả lời hàng đầu. Nhìn vào log entries gần đây nhất, tôi thấy có ai đó tìm “máy làm tình” và blog KHMT “được” là entry số 1 của google! Vinh dự quá thể :-).

Tại sao thế? Tại vì có post tên là “Nắm tay và làm tình“, và blog là blog Khoa Học Máy Tính.

Ta kết luận được gì từ thông tin này?

  1. Chưa có website tiếng Việt nào thật sự bán máy làm tình. Nếu tìm Fucking machines hoặc Sex machines thì sẽ ra cả đống websites bán các “máy (liên quan đến) làm tình”. Như vậy, thị trường này ở Việt Nam còn trống lắm, bạn nào có máu entrepreneur có thể kiếm tiền được đây.
  2. Tần số xuất hiện của các từ vẫn là một trong các tiêu chuẩn quan trọng trong search engine của Google. Ví dụ, nếu ta tìm cụm từ “máy học” hay “học máy” thì blog KHMT vẫn ở hàng thứ nhì, mặc dù chúng tôi hầu như chỉ dùng tiếng Anh “machine learning” chư không dùng tiếng Việt tả ngành này.

Có cách nào để liệt kê hết tất cả các cụm từ mà blog KHMT đứng đầu theo ranking của google không? Ví dụ như lý thuyết tính toán, Nghiên cứu nghiên kiếc, Lỗi định dạng chuỗi.

Chủ đề: Vui - Giải Trí | Bình luận (4) »

Tiến hóa của khoa học chính trị

Ngô Quang Hưng | 19 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Nhân kỷ niệm 100 năm thành lập, tạp chí American Political Science Review có nhiều bài reviews về lịch sử và phát triển của khoa học chính trị.

The November 2006 issue of the American Political Science Review completes the one-hundredth volume of the Review, which began publication in November 1906. To mark this occasion, the contents of the issue center on the theme of “The Evolution of Political Science.”

(Biết qua Dan Drezner)

Một số bài đáng chú ý bao gồm:

Chủ đề: Giới thiệu sách | Bình luận »

Giao thông ở Việt Nam

Ngô Quang Hưng | 18 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Nhân vụ giáo sư Papert bị đâm xe, tờ Boston Globe có bài.

Wilensky says that when Papert was hit, he was obeying the Hanoi rule he’d been taught: walk across at a steady pace. But the driver failed to make way for him.

Tôi không hiểu ai dạy cho Papert cái luật này? Không có ai ở Việt Nam lại điên đến mức cứ băng qua đường với vận tốc bằng hằng số (dù nhỏ), rồi hy vọng rằng tất cả các xe đạp xe máy xe hơi sẽ tự động tránh mình ra.

Bài báo cũng nói về tính “tự tổ chức” của giao thông. Lần đầu tiên tôi về Sài Gòn sau khoảng 9 năm lang thang, lúc đầu tôi cũng nghĩ rằng sẽ không thể đi xa máy ngay được. Vậy mà hôm trước hôm sau đã vác xe đi thoải mái. Khi bạn đã lái xe trong giao thông Sài Gòn (tệ hơn giao thông Hà Nội nhiều), thì bạn không còn sợ giao thông ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới. Và, dù bạn có đi nước ngoài nhiều năm, về đến Sài Gòn là bạn sẽ được trộn vào giao thông của nó trong tích tắc, biến thành người Sài Gòn.


Giao thông Hà Nội



Giao thông Sài Gòn

Trong một tin khác, những người đâm xe các giáo sư sắp bị khởi tố.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện | Bình luận (3) »

Sai lầm của Maxwell

Ngô Quang Hưng | 18 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Tờ Physics World số tháng 12, 2006 có bài tưởng niệm James Clerk Maxwell. Năm nay có kỷ niệm 175 năm từ ngày sinh của Maxwell. Tính về các người khổng lồ Vật Lý thì Maxwell đứng ngang với Archimedes, Newton, và Einstein.


(Source: Physicsweb)

Theo bài báo thì Maxwell đã phạm một lỗi lầm nghiêm trọng. Lỗi lầm gì thế? Lỗi lầm là … chết quá sớm.

Unless one is a poet, a war hero or a rock star, it is a mistake to die young. James Clerk Maxwell – unlike Isaac Newton and Albert Einstein, the two giants of physics with whom he stands – made that mistake, dying in 1879 at the age of just 48.

Nếu còn sống thì nhiều khả năng là ông đã nghĩ ra thuyết tương đối trước Einstein:

Had he not died so young, Maxwell would almost certainly have developed special relativity a decade or more before Einstein. Moreover, it was through reading Maxwell’s article “Ether” in the ninth edition of the Encyclopaedia Britannica that Albert Michelson came to invent the interferometer – a new kind of instrument that he and Edward Morley used in 1887 to discover that the speed of light is the same in all directions.

Còn nữa,

Few would have guessed that this “Scotch laird”, so disarmingly old-fashioned even in 1877, was a scientist whose writings remain astonishingly vibrant in 2006 and the greatest mathematical physicist since Newton. In addition to his work on electromagnetism, Maxwell also contributed to eight other scientific spheres: geometrical optics, kinetic theory, thermodynamics, viscoelasticity, bridge structures, control theory, dimensional analysis and the theory of Saturn’s rings. He also worked on colour vision, producing the first ever colour photograph (see box “A colourful tale”).

Even if his achievements are somewhat overshadowed in the public’s eye by those of Einstein, whose successes were marked by a great series of events last year, it is a measure of Maxwell’s standing that 2006 – the 175th anniversary of this birth – has been dubbed Maxwell Year.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Giảng dạy và nghiên cứu

Ngô Quang Hưng | 16 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Bài “mải giảng dạy quên nghiên cứu” ở báo Người Lao Động đặt cái tựa bài mang tính trách móc, tôi thấy như vậy là không công bằng cho những người “chạy sô” kiếm tiền. Có luật nào cấm họ chạy sô không?

Trong bài có các đoạn như sau:

Gần đây, trong giới giảng viên dạy chuyên ngành kinh tế ngoại thương kháo nhau về một TS đạt kỷ lục giờ giảng với trên 1.000 tiết/năm và còn thỉnh giảng ở nhiều trường khác. Thù lao mỗi tiết dạy ở các trường ĐH ngoài công lập khoảng 50.000 đồng/tiết nên thu nhập của giảng viên này tổng cộng lên tới 40 triệu đồng/tháng.

Ngoài thỉnh giảng, các giảng viên khoa cơ bản còn bị hút vào luyện thi ĐH. Giới toán học TPHCM thường nhắc đến một TS toán học, từng được giải thưởng quốc tế, với sự tiếc nuối. Bởi vì, thời gian qua vị TS này chưa có một bài báo khoa học nào đăng tải trên tạp chí quốc tế nhưng lại xuất sắc trong vai trò “trùm” luyện thi ĐH. Mỗi ngày dạy 16 tiết, suốt từ 7 giờ đến 21 giờ là bình thường đối với TS này.

Hãy nói về giảng dạy trước. Nếu muốn trách những “chuyên gia chạy sô”, tôi nghĩ rằng có ba luận điểm chính:

  • Họ dùng thời gian được thuê giảng của trường/lớp này để chạy sô ở chỗ khác. Nếu thế thì vấn đề nằm ở chỗ cơ quan họ làm việc không có phương thức nào kiểm tra thời gian làm việc.
  • Họ có trách nhiệm phải làm nghiên cứu, nhưng bỏ thời gian này đi chạy sô. Một lần nữa, đây là lỗi của cơ quan. Nếu họ không làm đúng trách nhiệm hoặc lạm dụng thời gian công làm chuyện tư thì cơ quan có quyền đuổi việc, hay giảm lương, hay kỷ luật gì đó.
  • Họ chạy sô nghĩa là đã không đảm bảo chất lượng cho từng lớp họ tham gia giảng dạy, không làm đúng lương tâm nhà giáo, vô trách nhiệm. Đánh giá lương tâm nhà giáo thì khó làm một cách khách quan được, cho nên ta không xét luận điểm này. Đây là lỗi của nơi thuê họ chạy sô. Những nơi này phải có phương pháp nào đó kiểm tra và đảm bảo chất lượng các chuyên gia này. Nếu chất lượng kém thì đi thuê người khác, tại sao lại cứ phải thuê chính người đã giảng cả nghìn tiết một năm? Trong thời buổi kinh tế thị trường, người dạy cả nghìn tiết một năm chắc hẳn phải có cái gì đó hơn các chọn lựa khác nên các trường mới thuê họ nhiều như thế. (Cho dù cái “hơn” đó là hơn phù phiếm như “hơn một mảnh bằng” chẳng hạn.)

Cả ba luận điểm này đều không ổn vì chính cơ chế quản lý chất lượng ở các nơi thỉnh giảng họ.

Do sự khan hiếm tài nguyên (ở đây là thiếu người có trình độ tương đương với các chuyên gia chạy sô), tài nguyên hơi kém chất lượng cũng vẫn mắc tiền. Khi thiếu gạo thì gạo trộn bo bo cũng đắt như thường.

Nhân nói về thời gian giảng dạy, ở đây mỗi năm 2 học kỳ tôi dạy 3 lớp (trong đó 1 lớp là seminar). Một năm 30 tuần mỗi tuần 4 tiết rưỡi (mỗi tiết 50 phút), vị chi là 135 tiết một năm. Tôi dành rất nhiều thời gian chuẩn bị cho các lớp tôi dạy. May mà hoàn toàn không phải chấm bài do đã có các sinh viên trợ giảng chấm. Nếu mỗi học kỳ thật sự dạy 2 lớp (mà không phải seminar), nghĩa là 180 tiết một năm, thì có thể nói không ngoa là tôi không còn thời gian nghiên cứu nữa nếu muốn giữ chất lượng giảng dạy như cũ.

Dĩ nhiên, bản chất của KHMT khác với nhiều ngành khác. KHMT thay đổi hàng ngày hàng giờ. Tôi đã dạy một số lớp lặp đi lặp lại, nhưng chưa bao giờ có nội dung giống nhau. Có thể lớp năm nay có phần giống năm ngoái, nhưng phần giống tối đa là một nửa. Đây cũng là cách mà tôi chọn thiết kế chương trình để giữ cho bản thân thích thú khi dạy. Tôi cực chán nhai đi nhai lại những thứ tôi biết rồi. Khi dạy một lớp nào đó, ít nhất bản thân tôi phải học được nhiều cái mới thì mới có hứng dạy.

Cho nên, tôi không thể tưởng tượng được làm thế nào mà ai đó có thể dạy 500 tiết mỗi năm hay 1000 tiết mỗi năm. Bái phục bái phục! Thời gian đâu ra để trả lới câu hỏi của học trò. Chắc họ không có office hours!

Thế còn vấn đề nghiên cứu thì sao? Bài báo trên trách các chuyên gia chạy sô không nghiên cứu mà chỉ lo làm thợ dạy. Một lần nữa, đây là bài toán kinh tế cơ bản. Nếu thay “chạy sô” bằng nghiên cứu thì họ có được gì không (tiếng tăm, tiền bạc)? Ta có cơ chế tạo incentives cho họ làm nghiên cứu không? (Giả sử họ có khả năng nghiên cứu. Nếu không có khả năng thì câu hỏi này vô nghĩa.)

Ở Mỹ thì các professors chính thống (tenured hoặc tenure-track) đều phải làm nghiên cứu. Khi còn là assistant professor thì không nghiên cứu tốt là … mất việc. Không có incentive nào mạnh hơn được nữa. Một incentive khác là có funding nghiên cứu thì có thêm lương hè, có tiền đi hội nghị (và đi chơi), có tiền mua sách vở máy móc. Một số trường còn có “lại quả” cho nhũng người có nhiều funding bằng cách giảm tổng số lớp dạy (từ 3 xuống còn 1 hoặc 0 mỗi năm), bằng cách tăng lương liên tục, …

Một điểm nữa có lẽ cũng đáng chú ý là một năm tôi dạy ít nhất hai lớp liên quan trực tiếp đến nghiên cứu của mình. Do đó giảng dạy và nghiên cứu bổ túc cho nhau, không phải là rào cản của nhau.

Một điểm thú vị mà có lẽ ít người chú ý là chúng tôi thường … tự trả phần lớn lương cho chính mình, trường thật ra tốn khá ít tiền trả lương. Tại sao vậy? Vì mỗi cái grant chúng tôi xin được thì trường lấy từ 30 đến 50 phần trăm. Khi giảng dạy chúng tôi đã tạo ra được một revenue nhất định, cộng với research grants thành ra tiền bạc mà mỗi cá nhân mang lại cho trường không phải ít.

Tóm lại, khi quan sát thấy hiện tượng nhiều chuyên gia chạy sô, ta phải rà soát lại cơ chế tạo incentives cho các cá nhân này thay vì trách họ đã chạy theo đồng tiền hoặc thiếu lương tâm nghề nghiệp. Dù trách móc có thể đúng, nó chẳng mang lại giải pháp hiệu quả nào cả, nhất là khi họ không làm trái pháp luật.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (1) »

Vài chuyện vui vật lý

Ngô Quang Hưng | 16 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Chuyện ở đây.

  • Heisenberg is out for a drive when he’s stopped by a traffic cop. The cop says ‘Do you know how fast you were going?’ Heisenberg says ‘No, but I know where I am.’
  • A neutron walks into a bar; he asks the bartender, ‘How much for a beer?’ The bartender looks at him, and says ‘For you, no charge.’
  • Two atoms bump into each other. One says ‘I think I lost an electron!’ The other asks, ‘Are you sure?’, to which the first replies, ‘I’m positive.’
  • An experimental physicist performs an experiment involving two cats, and an inclined tin roof.

    The two cats are very nearly identical; same sex, age, weight, breed, eye and hair color.

    The physicist places both cats on the roof at the same height and lets them both go at the same time. One of the cats fall off the roof first so obviously there is some difference between the two cats.

    What is the difference?

    One cat has a greater mew. (credit: Mike Varney)

Chủ đề: Vui - Giải Trí | Bình luận »

Hoan hô bộ giáo dục

Ngô Quang Hưng | 15 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Bụt hiện lên hỏi: vì sao con khóc?

(Dân trí) - Theo thông tin từ Bộ GD-ĐT, dự kiến trung tuần tháng 3/2007, thư viện giáo trình điện tử của Bộ sẽ cập nhật khoảng 100 giáo trình nhằm phục vụ đông đảo tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là tầng lớp HS, SV.

Trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin và khả năng tiếp cận Internet của nhân dân ngày càng cao, Bộ GD-ĐT đã quyết định xây dựng thư viện giáo trình điện tử miễn phí. Các giáo trình sẽ được Vụ ĐH & Sau ĐH xây dựng chương trình, đảm bảo chuẩn kiến thức và kỹ năng trong chương trình khung.

Thư viện giáo trình điện tử ra đời sẽ giúp các cơ sở đào tạo trong việc tham khảo khung chương trình hoặc trực tiếp sử dụng lại nội dung giáo trình. Đối với giáo viên, tùy thuộc vào lĩnh vực giảng dạy có thể tham khảo hoặc sử dụng lại giáo trình cho công việc giảng dạy…

Thư viện giáo trình điện tử cũng là điểm truy cập tập trung các thông tin về giáo trình, nội dung tham khảo, các thông tin về nguồn học liệu, nơi công bố và phổ biến các nội dung khoa học và kỹ thuật. Từ đây cũng có thể tìm kiếm trực tuyến kho giáo trình ở các trình độ Đại học, Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ.

Kết cấu giao diện của thư viện là có thể đọc trực tuyển hoặc download về để thuận tiện cho người sử dụng.

Trước mắt thư viện sẽ được đặt tại địa chỉ website: http://ebook.moet.gov.vn

Hiện, thư viện giáo trình điện tử đang được gấp rút hoàn thiện để có thể sớm đi vào hoạt động chính thức.

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận »

P. J. O’Rourke

Ngô Quang Hưng | 14 tháng 12, 2006 | Bản để in Bản để in

Kể từ Mark Twain, khó mà tìm được tác giả nào hài hước hơn P. J. O’Rourke. Quyển Parliament of Whores đã thành kinh điển. Đọc Eat the Rich thì cứ vài dòng là ta phải mỉm cười một lần. Sau đây là vài (trong vố số các) câu trong Eat the rich và Parliament of Whores:

  • Economists claim to study production, distribution, and consumption. But production requires actual skills and so can’t be taught by economics professors, because they’d have to know how to do something. And consumption is a very private matter. Consider the consumption of toilet paper, condoms, frozen pizza-for-one eaten straight out of the microwave in the middle of the night, and cigarettes in the carport when your spouse thinks you’ve stopped smoking. Therefore, economics tends to concentrate on distribution.
  • One thing that economists do know is that the study of economics is divided into two fields, “microeconomics” and “macroeconomics”. Micro is the study of individual economic behavior, and macro is the study of how economies behave as a whole. That is, microeconomics concerns things that economists are specifically wrong about, while macroeconomics concerns things economists are wrong about generally.
  • Democrats are … the party that says government can make you richer, smarter, taller, and get the chickweed out of your lawn. Republicans are the party that says government doesn’t work, and then they get elected and prove it.
  • Giving money to government is like giving car keys and whiskey to teenage boys.

O’Rourke quả thật là ông vua của các one-liners. Hắn mới ra sách mới, tôi vội vàng đặt mua.

Thêm vài danh ngôn của O’Rourke.

  • Always read stuff that will make you look good if you die in the middle of it.
  • Fish is the only food that is considered spoiled once it smells like what it is.
  • Never fight an inanimate object.
  • Skiing consists of wearing $3,000 worth of clothes and equipment and driving 200 miles in the snow in order to stand around at a bar and drink.
  • The weirder you are going to behave, the more normal you should look. It works in reverse, too. When I see a kid with three or four rings in his nose, I know there is absolutely nothing extraordinary about that person.
  • When buying and selling are controlled by legislation, the first things to be bought and sold are legislators.

Chủ đề: Danh ngôn & Giới thiệu sách & Vui - Giải Trí | Bình luận »

Các bài kế »