Thư viện bài tháng 10 năm 2006

Em ơi Hà Nội hố

Ngô Quang Hưng | 31 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Xem bài ở Vietnamnet.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Vừa ăn cướp vừa la làng

Ngô Quang Hưng | 30 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Theo Washington Post:

The goal for the spammers is efficiency — they want to ensure their bot networks are not cluttered with competing malware that might otherwise slow the machines to a crawl and alert the victims to a problem.

A new class of bot programs seeks to accomplish that task by downloading and installing a pirated version of Kaspersky Anti-virus, according to research published by Joe Stewart, a researcher for Atlanta-based SecureWorks.

Sẽ thú vị biết mấy nếu đến lúc nào đó có một virus “méc” user về một virus khác!

Chủ đề: Bảo mật và mật mã học | Bình luận »

Đi tìm lý thuyết … băm

Ngô Quang Hưng | 27 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Susan Landau có một bài viết rất súc tích về sự thiếu lý thuyết toán cho các secured hash functions, đi từ DES, MD4, MD5, AES, SHA-0, SHA-1, RIPEMD-160, đến SHA-256, SHA-512, cùng bài báo nổi đình nổi đám (vì vụ không xin được visa) của Xiaoyun Wang. Bài giới thiệu các sách gần đây về cryptography của bà trên Bulletin of the AMS đọc cũng được.

Chủ đề: Bảo mật và mật mã học | Bình luận »

Dã man … hay không

Ngô Quang Hưng | 27 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Bài này của Slate trích báo cáo này ở trường John Hopkins:

Several U.S. fertility clinics admit they’ve helped couples deliberately select defective embryos. According to a new survey report, “Some prospective parents have sought [preimplantation genetic diagnosis] to select an embryo for the presence of a particular disease or disability, such as deafness, in order that the child would share that characteristic with the parents.

À ha, có các bậc bố mẹ chọn đẻ một đứa con khuyết tật thay vì một đứa con lành lặn. Nghe qua có vẻ dã man, nhưng nghĩ kỹ lại thì không đúng. Họ chọn cái embryo đã bị khuyết tật, chứ không phải đẻ con ra rồi mới đâm mù mắt hay chọc thủng tai. Nói cách khác, đứa con lành lặn chưa bao giờ được sinh ra - còn đứa con bị khuyết tật được (?) cho mạng sống.

Chủ đề: Nghiên cứu nghiên kiếc | Bình luận (8) »

iPods cũng bị worm

Ngô Quang Hưng | 25 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Theo Washington Post:

Apple Computer this week warned customers that some Video iPods sold over the past five weeks were shipped with a computer virus capable of infecting computers running Microsoft Windows and exposing them to attacks by hackers.

Apple said the virus was embedded in less than 1 percent of the Video iPods available for purchase after September 12, 2006. Greg Joswiak, vice president of iPod product marketing at Apple, said the company traced the virus back to a Windows machine used to test iPod software in the manufacturing process.

Apple nhân cơ hội đá xéo Microsoft, trốn tránh trách nhiệm.

As you might imagine, we are upset at Windows for not being more hardy against such viruses, and even more upset with ourselves for not catching it.

Hừm, nếu đã biết thế thì đừng dùng Windows để test, hoặc có dùng thì phải scan worm/virus trước. Nếu Toyota mua sắt dỏm làm khung xe, thì lỗi là của Toyota khi cái xe bị gãy làm đôi.

Chủ đề: Bảo mật và mật mã học | Bình luận »

Notices of the AMS: Kurt Godel

Ngô Quang Hưng | 24 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Lần trước tôi link về số đặc biệt cho Turing của tờ Notices mà quên link đến số đặc biệt cho Kurt Godel.

Chủ đề: Lý thuyết tính toán | Bình luận »

Lại làm giả dữ liệu

Ngô Quang Hưng | 22 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Ta đã thấy các ví dụ làm giả dữ liệu ở Vật Lý, Sinh Vât., KHMT. Đây là ví dụ trong ngành Y. Tuy nhiên, vụ này có hơi khác một chút:

At 50, with his career in ruins and his reputation destroyed, Poehlman could only hope to avoid one final humiliation: becoming the first researcher sentenced to prison for scientific misconduct.

Vụ đình đám nhất trong ngành Y chắc phải là vụ chú Triều Tiên làm cloning.

Chủ đề: Nghiên cứu nghiên kiếc & Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Các giáo sư khùng chăng?

Ngô Quang Hưng | 22 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

The nutty professors là tên một bài giới thiệu sách ở tờ New Yorker: quyển Academic Charisma and the Origins of the Research University của sử gia William Clark:

Anyone who has ever taught at a college or university must have had this experience. You’re in the middle of something that you do every day: standing at a lectern in a dusty room, for example, lecturing to a roomful of teen-agers above whom hang almost visible clouds of hormones; or running a seminar, hoping to find the question that will make people talk even though it’s spring and no one has done the reading; or sitting in a department meeting as your colleagues act out their various professional identities, the Russian historians spreading gloom, the Germanists accidentally taking Poland, the Asianists grumbling about Western ignorance and lack of civility, and the Americanists expressing surprise at the idea that the world has other continents. Suddenly, you find yourself wondering, like Kingsley Amis’s Lucky Jim, how you can possibly be doing this. Why, in the age of the World Wide Web, do professors still stand at podiums and blather for fifty minutes at unruly mobs of students, their lowered baseball caps imperfectly concealing the sleep buds that rim their eyes? Why do professors and students put on polyester gowns and funny hats and march, once a year, in the uncertain glory of the late spring? Why, when most of our graduate students are going to work as teachers, do we make them spend years grinding out massive, specialized dissertations, which, when revised and published, may reach a readership that numbers in the high two figures? These activities seem both bizarre and disconnected, from one another and from modern life, and it’s no wonder that they often provoke irritation, not only in professional pundits but also in parents, potential donors, and academic administrators.

Phân tích và dữ liệu trong quyển sách rất thú vị. Clark cho ta biết nguồn gốc của phương thức tổ chức và các thủ tục phổ biến trong các trường đại học hiện đại, như các kỳ bảo vệ luận án, ý tưởng “mở cửa” cho sinh viên ngoại quốc, các báo cáo thường niên, cái syllabus, các bài thi, …

Đọc cái này mới thấy phương thức tổ chức các trường đại học ở Đức hồi thế kỷ 18 đã cực kỳ tiến bộ, thậm chí có những điểm tiến bộ hơn các tổ chức đại học ở VN hiện nay. Ví dụ, những điều sau đây người ta vẫn còn đề nghị trong các bài viết về “trường đại học tiêu chuẩn quốc tế” gần đây:

If a university wanted to attract foreign students, it must appoint professors who could engage in such scholarship. At a great university like Göttingen or Berlin, students, too, would do original research, writing their own dissertations instead of paying the professors to do so, as their fathers probably had. Governments sought out famous professors and offered them high salaries and research funds, and stipends for their students. The fixation on Wissenschaft placed the long-standing competition among universities on an idealistic footing.

Between 1750 and 1825, the research enterprise established itself, along with institutions that now seem eternal and indispensable: the university library, with its acquisitions budget, large building, and elaborate catalogues

The new pedagogy prized novelty and discovery; it was stimulating, optimistic, and attractive to students around the world.

Họ đã biết tận dụng kinh tế thị trường:

At the University of Göttingen, for instance, a hub of innovation only half a century old, he found an interesting anomaly. Professors tended to remain frozen at their acquisition salaries unless they could extract more money with the leverage of an outside offer.

Mục tiêu chính của quyển sách vẫn là để giải thích charisma của một tổ chức đại học:

Today, academic charisma—and the ascetic life of scholarship that goes with it—retains a central place in the life of universities. Scholars in all fields continue to gain preferment because they are “productive” (the academic euphemism for obsessive), and students continue to emulate them. Future investment bankers pull all-nighters delving into subjects that they will never need to know about again, and years later, at reunions, they recall the intensity of the experience with something close to disbelief—and, often, passionate nostalgia. The university has never been a sleek, efficient corporation. It’s more like the military, an organization at once radically modern and steeped in color and tradition. And it’s not at all easy to say how much of the mystique could be stripped away without harming the whole institution. If you thoroughly rationalize charisma, can it remain charismatic?

Câu in đậm trên nói đúng quá!

Chủ đề: Giáo dục & Giới thiệu sách | Bình luận »

Miễn dịch Internet

Ngô Quang Hưng | 21 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Đó là tên một bài viết khuyết danh tác giả ở Havard Law Review. Tác giả lý luận rằng hoạt động của các hackers có thể phạm luật nhưng cũng có thể rất có lợi.

Chủ đề: Bảo mật và mật mã học | Bình luận »

Đạo văn, đạo đủ thứ

Ngô Quang Hưng | 20 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Nhân bạn sontran cho link đến vụ plagiarism của Bruce, gửi cho bà con xem cái này. Trắng trợn đến thế là cùng :-).

Tôi hoàn toàn không càm ràm gì nếu bất kỳ ai dùng và phổ biến các bài trên blog này, vì thật sự đó là một mục tiêu chính của blog, miễn là cái bản quyền lỏng lẻo tối thiểu này được tôn trọng.

Đây không phải là lần đầu và chắc chắn là không phải lần cuối tôi “được” người ta đạo văn. Bài Tản Mạn Sài Gòn được đăng ở đây, chẳng hạn. (Cảm ơn anh Chương đã cho biết link, nhờ đó quen được bạn mới - do đó plagiarism không hẳn là chỉ mang lại điều xấu!)

Chủ đề: Vui - Giải Trí | Bình luận (4) »

Vài chuyện không vui

Ngô Quang Hưng | 18 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

  • Mấy hôm trước Buffalo bị bão tuyết lớn, cây gẫy lung tung, mất điện toàn thành phố (và các vùng lân cận) đến mấy ngày. Mất điện khi có tuyết ở ngoài không bao giờ là chuyện vui. Đến hôm nay vẫn có hơn 100 ngàn hộ gia đình chưa có điện. Có đến 12 người chết. Lý do cành cây gãy nhiều là vì bây giờ mới giữa tháng 10, cây còn nhiều lá quá, lá hứng tuyết, mà nhiều tuyết (22 inches) thì nặng.
  • Vì lý do này, thư từ đến muộn. Tôi mới nhận được checks ủng hộ bão lụt hôm nay dù một số bạn đã gửi từ trước đó lâu. Nhắc đến vụ bão lụt, bão Buffalo chẳng thấm thía gì so với bão số 6. Anh Văn Khoa vừa đi cứu trợ ở Đà Nẵng về (sẽ viết bài tổng kết sau), kể chuyện rất thương tâm. Trích thư anh ấy:

    Họ nghèo quá, một xã miền núi có 512 nhà sập, mình chỉ phân ở đó có 50 phần, không thấm vào đâu. Nhiều người chạy ra gào khóc vì không được phân quà, nghĩ cũng tội vì mình chỉ có bấy nhiêu, còn đi chỗ khác. Hỏi trước giờ được gì rồi, họ nói có 5 gói mì tôm và 5kg gạo.

    Có em bé 12 tuổi chui dưới giường tránh mưa vì nhà bay mất mái, sau đó nhà sập luôn đè lên giường và em bé thiệt mạng quá thảm.

    PS: chụp nhiều hình nhưng gửi trước tấm hình em bé 12 tuổi nọ … Ông bố đứng bên cạnh lúc đó đã bồng em chạy ra ngoài trời bão hi vọng đến trạm xá cứu mạng nhưng tuyệt vọng hoàn toàn. Trên bàn thờ vẫn còn chiếc cặp và bộ đồng phục học sinh lớp 6.


    (Anh Văn Khoa đứng giữa, ông bố em bé ở bên trái.)
  • Bọn giết sinh viên Vũ Anh Tuấn ở Nga đã được trắng án.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Notices of the AMS: Alan Turing

Ngô Quang Hưng | 17 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Issue mới của tờ Notices là số đặc biệt về Alan Turing. Liên quan nhất đến blog KHMT là bài Turing Thesis, Theo cùng tinh thần bài Chung Qui Chỉ Tại Cantor.

Chủ đề: Lý thuyết tính toán | Bình luận »

Lại Yau

Ngô Quang Hưng | 17 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Sau bài ở New Yorker, Yau đòi kiện, đến New York Times cũng vừa có vài lời về Yau.

Finally, after more delays and excuses, Dr. Yau found himself being driven on a fresh dirt road through farm fields to his hometown, where the citizens slaughtered a cow to celebrate his homecoming. Only long after he left did Dr. Yau learn that the road had been built for his visit.

Cái đó chưa hay, cái này mới hay:

In a twist, a flaw has been discovered in the Cao-Zhu paper. One of the arguments that the authors used to fill in Dr. Perelman’s proof is identical to one posted on the Internet in June 2003 by Bruce Kleiner, of Yale, and John Lott, of the University of Michigan, who had been trying to explicate Dr. Perelman’s work.

In an erratum to run in The Asian Journal of Mathematics, Dr. Cao and Dr. Zhu acknowledge the mistake, saying they had forgotten that they studied and incorporated that material into their notes three years ago.

Chủ đề: Chính trị trong ngành & Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Bác Hiệu nhắn nhủ

Ngô Quang Hưng | 17 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

http://www.vnn.vn/khoahoc/2005/06/453845/

Tôi đã mong đợi ngày hôm nay. Bây giờ, tôi muốn tâm sự một đôi điều không chỉ với các bạn trẻ mà cả với các thầy như thầy Nguyễn Ái Việt, Viện trưởng Viện Vật Lý và điện tử; thầy Nguyễn Hữu Đức - chỉ mấy bữa nữa thôi sẽ thay tôi làm Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ. Tôi đã già lắm rồi, cũng không biết là làm được bao nhiêu lâu nữa nên bây giờ có gì ở trong đầu là phải nói ra hết. Tôi cũng rất cảm ơn các phóng viên của VietNamNet đến dự buổi hôm nay vì tôi muốn nhờ các bạn truyền đạt những suy nghĩ của tôi tới các bạn trẻ VN trong và ngoài nước.

Chủ đề: Dành cho du học sinh | Bình luận (1) »

Các kết quả về tính không xấp xỉ được

Ngô Quang Hưng | 11 tháng 10, 2006 | Bản để in Bản để in

Quyển Computers and Intractability: A Guide to the Theory of NP-Completeness của Garey và Johnson là tham khảo kinh điển về lý thuyết NP-đầy đủ. Trong 30 năm qua, Johnson vẫn tiếp tục viết các NP-complete columns để cho ta biết các cập nhật mới nhất về các bài toán NP-đầy đủ.

Hồi xưa, ta có thể viết một bài báo chứng minh một bài nào đó là NP-Hard. Nay thì 99.9% các kết quả loại này chỉ là một bổ đề trong phần appendix của một bài báo. Các chứng minh NP-hardness đã trở thành routine như kiểu tính tích phân (mặc dù tính tích phân không phải lúc nào cũng đơn giản!).

Ngày nay, khi đối chọi với một bài toán mới, để có thể đăng tải kết quả thì ngoài chuyện chứng minh là nó NP-hard ta thường phải làm thêm 2 việc nữa: (1) tìm một thuật toán xấp xỉ tốt, và (2) chứng minh rằng xấp xỉ bài này đến một tỉ lệ nhất định cũng NP-hard nốt. Công việc (2) được gọi là chứng minh “hardness of approximation”. (Ta có thể thay giả thiết P khác NP bằng một giả thiết khác trong complexity theory. Giả thiết “hot” nhất hiện nay là Unique Game Conjecture. Xem thêm ở Khot’s homepage, và bài này, bài này nữa.) Kỹ thuật chính để chứng minh các kết quả loại này là dùng Probabilistically Checkable Proofs.

Lẽ tự nhiên, column mới nhất của David Johnson nói về các kết quả loại này — một bước nhảy lượng tử từ NP-hardness lên NP-hardness of approximation. Muốn biết chi tiết hơn, đọc các bài [Trevisan 2004] và [Khot 2005].

Chủ đề: Lý thuyết tính toán & Thuật Toán | Bình luận »

Các bài kế »