Thiên tài – bẩm sinh hay tu luyện?

Ngô Quang Hưng | 08 tháng 05, 2006 | Bản để in Bản để in

Trích Economist

THOMAS EDISON gave his famous formula for genius as 1% inspiration and 99% perspiration. Modern-day students of geniuses and prodigies, though, argue over the relative contributions of more tangible factors—of genetics, of physiology, of hours spent in training. Most believe that geniuses have special genes. Almost nobody takes the opposite stance: that prodigy performance, in any field, lies within the grasp of anyone who cares to try hard enough.

Anders Ericsson, a psychologist at Florida State University, falls into the minority camp. Given ten years of deliberate practice, Dr Ericsson says, anyone should be able to attain prodigy-level performance in his discipline of choice.

Hypothesis của Ericsson là các “thiên tài” đạt được mức độ tài năng đó là do họ … luyện công trường kỳ. Ở một mức độ nhất định, Ericsson đã thành công trong việc chứng minh điều này. Ví dụ:

Twenty years ago, Dr Ericsson tried to prove it by training some ordinary laboratory volunteers up to prodigy-level performance in a number-memory task. Average people tend to have a “digit-span” of seven—in other words they can recall a string of seven random digits after hearing it read out once. But after a year’s practice, two of his particularly dedicated subjects were able to increase their digit-spans to lengths of 80 and 100.

Just as Dr Ericsson took people with no discernible talent and turned them into champions, so, in a fashion, did a Hungarian, Laszlo Polgar. When he began training his daughters, it was widely believed that women could not play serious tournament chess. But through a deliberate (and still continuing) psychological experiment, Dr Polgar and his wife created a trio of world-class chess champions out of their own daughters, overturning this prejudice.

By 1992, all three had reached the women’s top ten worldwide. The third, who presumably received the most refined training regimen, became the youngest grandmaster in the history of the game and is reckoned by her peers to have a good chance of becoming world champion one day. With remarkable, if not hubristic, prescience, Dr Polgar had written a detailed book on the subject of child rearing, entitled “Bring Up Genius!” before beginning the coaching of his children. But would any child reared by such a parent have become a chess prodigy?

Kể cả khi hypothesis này là đúng, câu hỏi đặt ra là: nếu không có cha mẹ như Laszlo Polgar, làm thế nào mà đứa nhỏ này lại có khả năng tập trung tu luyện, còn đứa khác thì chỉ thích chơi video games? Cùng cái “theme” này, xem thêm bài “a star is made” ở NY Times.

Nếu “chương trình” Ericsson thành công thì sẽ truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ!

Chủ đề: Giáo dục | Bình luận (4) »

4 lời bình

  • Trần Thế Truyền says:

    Tôi thì tôi chỉ nghĩ đơn giản là không có cái 1% kia thì 99% còn lại cũng là công cốc. Được biết bác Edision nổi tiếng là người cực mẫn cảm với các vấn đề hóc búa, trong hàng vạn hướng đi thì thế nào bác ấy cũng “đánh hơi” được hướng ngon ăn. Cũng phải nói thêm là cách làm việc của bác Edision thì có khi quá mò mẫm và đòi hỏi sức khỏe tốt. Thêm nữa, tôi nghĩ bác ấy sinh ra vào lúc nước Mỹ cần những sản phẩm của bác ấy, nên mới có cảm hứng mà chiến đấu trường kỳ.

    Bản thân tôi thì có trải qua cả hai cảm giác: 1. hết mẫn cảm, không tiến xa được trong một lĩnh vực nào đó, 2. cứ đầu tư thật chiến, thật bài bản, cũng trở thành … expert dù mình chẳng có năng khiếu bẩm sinh gì. Nhưng dù sao expert vẫn là expert (đủ để lòe con trẻ), không bao giờ có thể thành master (không lòe ai cả, nhưng có thể làm những điều tưởng như không thể).

  • Chào bác,

    Tôi thì tôi chỉ nghĩ đơn giản là không có cái 1% kia thì 99% còn lại cũng là công cốc.

    Tôi không nghĩ 99% kia là công cốc chút nào. Khẳng định này, ngoài cảm nhận cá nhân, còn được ủng hộ bởi khá nhiều nghiên cứu tâm lý học. (Xem thêm bài này, bài này của Terry Tao, hay bài này bên Cosmic Variance.) Như tôi đã viết trong bài “khen trẻ nhỏ thế nào”, tôi vững tin vào khẳng định sau đây:

    Cần cù chắc chắn sẽ làm cho bạn và tôi thông minh hơn! Ít nhất, nếu bạn không tin điều này thì có thể hiểu nó theo cách khác: cần cù sẽ làm cho bạn và tôi khai thác trí thông minh của mình triệt để hơn nhiều lần.

  • Trần Thế Truyền says:

    Tôi đồng ý với bác Hưng trên quan điểm cần cù sẽ khai thác trí tuệ tốt hơn, vì nếu không trí tuệ biết dùng vào đâu? Ý tôi là hãy chịu khó khám phá bản thân (đòi hỏi cần cù) để tìm ra điểm mạnh (đòi hỏi trí tuệ) chứ đừng có lao vào tường rồi đổ lỗi cho bác Edison.

    Bác Richard Hamming từng nhận xét là cần cù nghiên cứu (làm thêm giờ) có ảnh hưởng kiểu “compound interest” đến kết quả cuối cùng (tức là theo hàm mũ). Tôi không biết quan sát của bác ấy dựa trên những người “có ý thức chịu khó” hay là những người hi sinh thời gian cho đam mê nghiên cứu của mình. Cũng có lẽ vì đặc thù nghiên cứu là theo chiều sâu (chỉ cần sâu hơn một chút đã sang cảnh giới khác), chứ không theo chiều rộng (ví như … làm ruộng) nên có hiện tượng như bác Hamming nói chăng?

  • Hoang Tung says:

    Co hai loai:

    Mot la thien tai thuan tuy: Sinh ra da co nhung to chat dac biet va khong can ren luyen. Cai nay toi chi cong nhan sau khi biet den ten tuoi nha toan hoc An Do : Srinivasa Ramanujan (Chu khong phai la Einstein dau). Ho co nhung nang luc sieu nhien trong tu duy. Nguoi thuong khong the ren luyen ma dat duoc.
    Hai la thien tai do ren luyen: Do la nhung nguoi ton tai trong ban than nhung to chat nhat dinh va trong qua trinh ren luyen to chat ay duoc phat trien den muc do cao. Co the den gioi han nao do se tao ra nhung phat minh.
    Cau noi cua Edison chi dung 50%.

RSS cho bình luận bài này

Ghi bình luận của bạn