Tự do tí toáy
Từ thời mở cửa, có lẽ hai khái niệm “mở” được nhắc đến nhiều nhất là “thị trường mở” và “mã nguồn mở”. Hai khái niệm khác, không kém phần quan trọng, nhưng ít được nhắc hơn là “kiến trúc mở” (của Internet) và “tinh thần mở” (open-mindedness). Hoàn toàn có thể lý luận một cách thuyết phục rằng bốn khái niệm mở này đóng vai trò thiết yếu cho sự phát triển và hội nhập của Việt Nam (hay bất kỳ quốc gia nào khác) trong thế kỷ 21. Bài này lạm bàn xung quanh hai “mở” kỹ thuật: mã nguồn và kiến trúc Internet, để bạn đọc tự liên hệ song song đến hai khái niệm mở xã hội và cá nhân còn lại.
1. Mã nguồn mở
Trong bài “sự dịch chuyển của mẫu hình mã nguồn mở” (open source paradigm shift), Tim O’Reilly – CEO của nhà xuất bản kỹ thuật O’Reilly nổi tiếng – lập luận rằng phong trào mã nguồn mở và mã nguồn miễn phí là một paradigm shift của công nghệ và khoa học máy tính. Khái niệm paradigm shift trong khoa học đầu tiên được triết gia Thomas Kuhn mô tả trong quyển sách lừng danh “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học”. Đại khái, Kuhn lý luận rằng khoa học không phát triển tuyến tính mà thỉnh thoảng có các bước nhảy vọt khổng lồ gọi là một paradigm shift. (Ví dụ: Newton và Einstein đánh dấu hai bước nhảy vọt của Vật Lý.)
Không ở tầm vực như các định luật Newton hay thuyết tương đối, nhưng quả thật phong trào mã nguồn mở về căn bản đã định hình lại ngành công nghiệp phần mềm thế giới và các mô hình kinh doanh của họ; phá hủy (hoặc cân bằng lại) các thế lực trong thế giới CNTT; làm giảm khoảng cách và sự phụ thuộc công nghệ của các nước chậm phát triển đến các chàng khổng lồ; truyền cảm hứng cho một loạt các phong trào “kiến thức mở” khác như phong trào wiki và các thư viện trực tuyến, chia sẻ tiến độ nghiên cứu công nghệ sinh học và y học, phong trào chia sẻ các nội dung điện tử qua Creative Commons License; khuấy đảo và thay đổi các quan niệm truyền thống về luật bằng phát minh/sáng chế và các loại bằng sở hữu trí tuệ khác; làm bối rối các nhà hoạch định chính sách CNTT của các nhà nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ; thách đố các nhà kinh tế khi cơ man nào là các lập trình viên hàng đầu và cả các công ty lớn tham gia trò chơi “cho không” này; khởi tạo mô hình hợp tác phát triển sản phẩm một cách phân bố; thậm chí một số các nhà khoa học xã hội đã và đang phát triển ý tưởng nguồn mở vào các mô hình dân chủ hóa quản lý nhà nước.
Để phân tích và dẫn chứng toàn bộ các ảnh hưởng trên của mã nguồn mở, ta cần một vài quyển sách. Thay cho một thảo luận toàn diện, ta xét một ví dụ kinh điển và phần nào … giật gân.
Các tài liệu Halloween là một chuỗi các báo cáo nội bộ của Microsoft về các chiến lược đối chọi với phong trào phần mềm mã nguồn mở nói chung và Linux nói riêng. Tài liệu Halloween số 1 bị lộ ra ngoài cuối tháng 10 năm 1998, đến tay một lập trình viên có tiếng là Eric Raymond. Eric đăng luôn lên website của anh cùng với lời bình. Microsoft đã nhận rằng tài liệu này là thật, tuy nhiên không nhận rằng đó là tài liệu chiến lược kinh doanh, mà chỉ là nghiên cứu kỹ thuật. Tài liệu Halloween số 2 nói riêng về Linux (thay vì phần mềm mã nguồn mở nói chung) cũng ở tình trạng tương tự ngay sau đó. Một chuỗi các báo cáo, đính chính, phát biểu từ Microsoft liên quan đến các tài liệu này cũng bị lộ từ năm 1998 đến nay, và được đánh số từ 3 đến 11. Các tài liệu thú vị này vẽ một bức tranh nhiều màu sắc trong quan hệ giữa các đối trọng phần mềm thế giới. Ví dụ như vụ Microsoft tuồn cho SCO 86 triệu đô để “oánh” Linux (và vì thế, IBM) được tiết lộ ở Halloween 9 & 10. Khi Microsoft dồn nhân/vật lực vào cái gì thì hẳn là cái đó đã/đang có tiềm năm cực lớn: chiến tranh browser với Netscape, chiến tranh search engine với Google, chiến tranh hệ điều hành với GNU/Linux, chiến tranh trong thị trường Game với Sony, v.v.
2. Kiến trúc mở của Internet
Có thể nói không ngoa là các phong trào mã nguồn mở, mã nguồn miễn phí sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có Internet. Internet cho phép các lập trình viên trên toàn thế giới học hỏi và trao đổi kiến thức, hợp tác từ xa phát triển các dự án phần mềm. Giải thưởng Turing (tương đương với Nobel cho ngành khoa học máy tính) năm qua đã về tay các tiến sĩ Vinton Cerf và Robert Kahn, những người phác thảo kiến trúc Internet, thiết kế giao thức TCP/IP, và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hiện thực hóa Internet trong khoảng 30 năm nay.
Hai yếu tố quan trọng nhất làm Internet bùng phát là kiến trúc mở và nguyên tắc thiết kế end-to-end (E2E, tạm dịch là “từ đầu này đến đầu kia”).
Đầu những năm 1960, các ý tưởng khởi điểm về mạng chuyển gói (packet switched networks) dẫn đến mạng ARPANET do phòng nghiên cứu bộ quốc phòng Mỹ (DARPA) tài trợ. Cùng năm này mạng chuyển gói radio đầu tiên (ALOHA Net) bắt đầu làm việc. Cùng với sự ra đời của email cuối 71, đầu 72, và phác thảo ý tưởng về mạng cục bộ Ethernet, Robert Kahn nhận rõ sự cần thiết của việc nối các mạng khác nhau với nhau để chia sẻ tài nguyên và thông tin. Kahn phác thảo ý tưởng về một cấu hình mạng mở (open networking architecture) trong đó các mạng với kiến trúc, cấu hình máy, hệ điều hành … khác nhau có thể nối kết với nhau. Cái mạng của các mạng này được gọi là Internet. Đến đầu năm 1973, Kahn hợp tác với Cerf để phát triển bộ giao thức TCP/IP – cái mà hầu hết các máy tính nối mạng hiện nay đều dùng. Cấu trúc mở đã cho phép các nhà sản xuất phần cứng, phần mềm phát triển và sáng tạo sản phẩm mạng độc lập nối mạng với nhau.
Dù có phát triển và thích nghi, các ý tưởng căn bản của TCP/IP đứng vững trước bao nhiêu kỹ thuật mạng mới, bao nhiêu trăm triệu máy mới nối mạng, nghìn vạn các ứng dụng mới của Internet mà dù Cerf và Kahn có mơ cũng không thể thấy hết. Đây là bằng chứng hùng hồn cho một ý tưởng lớn.
Nguyên tắc E2E đại loại có nghĩa là: các chức năng của mạng càng đơn giản càng tốt, để các máy tính nối mạng thực hiện các tác vụ phức tạp, còn bản thân Internet chỉ cần cố hết sức gửi một gói dữ liệu từ đầu này đến đầu kia. Nguyên tắc này có ảnh hưởng tuyệt đối lớn đến sự phát triển các ứng dụng quan trọng nhất trên mạng Internet toàn cầu, vì nó cho phép người sử dụng (thay vì người cung cấp dịch vụ mạng) sáng tạo và phát triển các ứng dụng mới mà không bị mạng làm phiền (mạng chỉ có chức năng chuyển giao các gói dữ liệu, không ngăn cản/lọc/thay đổi dữ liệu).
Bằng chứng hùng hồn cho tầm quan trọng của nguyên tắc E2E là các ứng dụng như email, World Wide Web, ứng dụng P2P (Napster, Gnutella, Kazaa), các công cụ chat (và webcam), search engines (như Google), … đều do người dùng Internet sáng tạo và phát triển. Nếu không có cấu trúc mở theo nguyên tắc E2E thì một vài công ty cung cấp dịch vụ mạng đã không thể nào phát triển các ứng dụng trên Internet vũ bão như thế trong 30 năm qua.
3. Tự do tí toáy
Mô hình mã nguồn mở và kiến trúc mở trên nguyên tắc E2E của Internet có một điểm chung: cho phép người dùng “tự do tí toáy”. Bằng cách này, chúng tạo nền tảng và khuyến khích tiềm năng sáng tạo vô hạn từ toàn bộ nhân loại. Tính “mở” cho phép các cá nhân có tiếng nói riêng, đóng con dấu lao động và sáng tạo của bản thân vào quá trình phát triển của thế giới. Động lực của sự “cá nhân hóa” này có sức mạnh đáng kinh ngạc như đã minh chứng.
Một xu hướng đáng lo ngại là gần đây các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các tổ chức chính phủ đang càng lúc càng nhúng sâu vào việc vi phạm nguyên tắc E2E. Các gói dữ liệu bị tường lửa lọc vì lý do tôn giáo, chính trị, văn hóa. Nhiều công ty viễn thông và cáp truyền hình cài đặt các bộ lọc VoIP để không cho phép gọi điện thoại qua Internet vì lý do cạnh tranh kinh tế. Các dòng dữ liệu đa phương tiện cũng bị nhiều ISP phân biệt đối xử. Vint Cerf, Bob Kahn, và rất nhiều nhà khoa học khác đang tích cực tham gia thuyết phục chính quyền Mỹ ngăn cản xu hướng này. Thật đáng buồn khi các mục tiêu kinh tế ngắn hạn hay các chuẩn mực tôn giáo, văn hóa độc đoán lại dựng nên rào cản dài hạn kiềm hãm sự sáng tạo của nhân loại. Tìm một điểm cân bằng hữu lý giữa các giá trị xã hội ngắn hạn và các giá trị vĩnh hằng của lao động và sáng tạo là trách nhiệm rất lớn của các nhà hoạch định chính sách.
Tự do tí toáy chính là cái paradigm shift của khoa học, công nghệ, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa thế giới trong hơn 30 năm bùng nổ CNTT vừa qua. Tự do tí toáy đang dần san phẳng bao nhiêu rào cản, biên giới địa-chính trị, kinh tế, tri thức, … tạo nên một “thế giới phẳng” (theo tựa đề quyển “Thế giới phẳng: lược sử thế kỷ 21” của nhà báo Thomas Friedman). Phiên bản “toàn cầu hóa 3.0” đang được phát triển không phải bởi các tập đoàn xuyên quốc gia khổng lồ hay tổ chức tiền tệ thế giới, mà bởi cơ man nào là các cá nhân thấp cổ bé họng, ngồi cạnh chiếc PC nối mạng, học tập, lao động, và sáng tạo từng phút từng giây.
Tự do tí toáy là cơ hội nghìn năm một thủa cho các nhân tài đất Việt vươn ra thế giới: học hỏi, lao động, sáng tạo. Một đất nước chỉ nhỉnh hơn 5 triệu dân như Phần Lan mà sản sinh ra được Linus Tovalds thì không lý nào 80 triệu dân Việt Nam lại chỉ đem dịch các phần mềm mã nguồn mở sang tiếng Việt. Cơ hội của quả đất phẳng đã san bằng sân chơi tri thức, đặc biệt là tri thức CNTT. (Xem gợi ý.)
Tự do tí toáy là phương tiện cực kỳ cụ thể để các cá nhân thực hiện quyền tự do biểu hiện, một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Đây chính là cái ngòi nổ cho các phong trào tri thức mở của thế giới, giải phóng tiềm năng sáng tạo vô hạn của nhân loại. Tạo điều kiện tối đa cho sự tự do tí toáy là một trong những điều kiện tiên quyết cho phát triển về nhiều mặt trong kỷ nguyên mới.

Rubbish qua bac Hung Ngo a. Khong nen dung opensource voi mo mong co buoc dot pha CNTT.
Cai dang thieu o VN la Business Processes chu o phai la source code - open hay non-open.
Da khong co kinh nghiem ve business processes … truoc het la di hoc lam consultants dua tren cac
package da co san truoc - roi tinh den viec develop business application cho minh sau.
Open Source nay dang khien CPVN do khong biet bao nhieu la tien cua cho mot ket qua gan nhu bang ZERO
Bài viết rất hay! Tui cũng nghĩ đây là 1 cơ hội ngàn vàng cho sinh viên Việt nam và những bạn hiện đang sống và làm việc ở VN thích tí toáy với tin học . Project VieZilla or VietZilla và các projects tương tự nếu được thực hiện đúng tiêu chuẩn thì khác nào là chỗ thực tập, huấn luyện và đào tạo các visionaries, project managers, team leaders, coders, etc. tương lai với khả năng ngang hàng -và có thể vượt trội hơn- với những tay giỏi của thê giới .
Tôi ko dám và cũng ko có khả năng bàn đến các vấn đề có vẻ hơi vĩ mô trong bài của anh Hưng (chính sách, họach định,…), ý kiến của tôi xin tập trung về khía cạnh kỹ thuật nhiều hơn và dưới cái nhìn của 1 người đang co thể gọi là làm việc trong môi trường open-source ở VN.
Tôi ra trường được hơn 3 năm, đi làm cho 2 cty, đều là 2 cty chuyên gia công (outsourcing) cho các khách hàng là cty của nước ngòai, khách hàng chịu trách nhiệm quản lý luôn cả dự án, phía Việt Nam chỉ cung cấp nhân lực (tất nhiên khách hàng sẽ quyết định ai được làm cho họ qua interviews, exams,…), cho nên xét theo 1 góc độ nào đó, chúng tôi là nhân viên trực tiếp của họ. 2 cty mà tôi làm đều là 2 cty chuyên làm phần mềm cho Internet routers.
Cty thứ nhất là 1 tên tuổi lớn về Telecom của Canada, họ ko dùng đồ open-source, mọi thứ đều là proprietary, từ cái OS cho router (VxWorks) cho đến mọi components trong nó (routing packages, MPLS, VPN, …), kể cả các workstation để develop (Sun Ultra Sparc) và phần mềm quản lý source code/bugs (Rational ClearCase Server). Tất nhiên phần tham gia của phía Việt Nam chỉ là những components đơn giản (CLI, DHCP, SNMP,… ), tuy nhiên nhiêu đó cũng đã quá thỏa mãn cho cái sự đói kiến thức của những sinh viên ngành mạng mà khi ra trường ko biết được cái NIC ra làm sao như bọn tôi.
Cái tôi học được khi tham gia những dự án kiểu như thế này là sự chuyên nghiệp trong phong cách làm việc, design, coding, fix bugs,… mọi thứ đều có quy trình rất rõ ràng, nó làm cho tôi cảm thấy rất thích thú, kích thích tính ham học hỏi, vì mọi fearures trước khi đưa vào sản phẩm đều có documents rất chi tiết, nên khi muốn tìm các mảng kiến thức liên quan, chỉ cần refer đến chúng là đủ. Và bản thân tôi thu được rất rất nhiều kiến thức CƠ BẢN trong thời gian làm việc cho dự án này.
Sau đó, vì 1 số lý do riêng, tôi rời cty và hiện đang làm cho 1 cty khác, lần này là 1 cty nhỏ, chuyên trị đồ open-source. Họ dùng Linux làm OS (tất nhiên phải mua Kernel/Framework từ MontaVista, chứ cái kernel trên kernel.org chẳng thể nào port vào router được). Routing software thì port thằng Quagga (1 biến thể của gói Zebra nổi đình đám 1 thời) vào, SNMP thì lấy nguyên xi NET-SNMP, RADIUS thì bê nguyên xi FreeRADIUS,… nói chung là mọi thứ đều có sẵn, có điều là ko phải tự họ làm ra mà thôi (đến bây giờ tôi vẫn ko thể hiểu được chuyện bản quyền sẽ như thế nào trong tình huống này). Tôi được giao làm maintainer cho một component trong đó, cái shock đầu tiên khi gặp phải là THIẾU TÀI LIỆU TRẦM TRỌNG, tôi chẳng thể tìm được 1 cái tài liệu nào ra hồn cả trên Internet lẫn của cty, mà code có sẵn thì viết có thể nói là cực ẩu, chạy mấy cái tool phân tích code như kiểu Rational Purify thì ra cơ man nào là lỗi, tòan lỗi cơ bản, và các cty Việt Nam thường có job từ việc fix những bugs này. Có cảm giác các sản phẩm open-soure là cái được chắp vá tùm lum qua nhiều thế hệ maintainers hơn là có 1 design hòan chỉnh từ ban đầu. Ví dụ trực quan nhất có lẽ là NET-SNMP, từ lúc được public ở CMU, rồi qua tay UCDavis, đến bây giờ thì nó là 1 đống tả-pín-lù chứa tùm lum API models, các modules cho từng MIB trong đó được viết mỗi anh mỗi kiểu, ko thống nhất gì sất. Còn kết quả thì hỡi ôi, thường việc hiện thực các thông số cung cấp cho SNMP daemon được tiến hành của chính tác giả của networking stack trong OS kernel, và khi anh này có SNMP framework trong tay, anh ta sẽ hiện thực luôn MIB module cho các thông số đó (vì ko ai biết rõ nó hơn anh ta), đây là trường hợp ở cty đầu tiên mà tôi làm việc. Còn với trường hợp NET-SNMP, do ko có đươc điều này, khi SNMP daemon response kết quả về mà bị sai, người ta chẳng thể biết được là lỗi do đâu cơ (do SNMP hay do Kernel), đau đầu thế đấy.
Viết dông dài như thế chỉ để nói rằng, chẳng phải việc dùng open-source là tòan màu hồng như mấy bài báo của mấy cán bộ nước nhà hay rêu rao trên báo. Nào là lối thóat duy nhất cho CNPN Việt Nam trong giai đọan hội nhập, nào là tiết kiệm chi phí, giảm rủi ro …. Các bác đó chắc cả đời chưa bao giờ thấy được cái lỗi “Segmentation Fault” trên Linux bao giờ nhỉ, và chắc cũng chưa đánh vật với Linux mỗi khi build 1 cái phần mềm hòan chỉnh cần nhiều dependencies, hay mỗi khi nó crash, boot cũng ko được nữa cơ… Chỉ được cái trò “tự sướng” là giỏi thôi: người Việt Nam thông minh, rất hợp với ngành CNTT, rồi Vietkey Linux (cái này chắc là trò lố bịch nhất), nghe nó vĩ đại làm sao.
Tôi đồng ý 1 phần với quan điểm của comment số 1, có câu nói rất hay, sống ở đời phải biết mình là ai. Chúng ta đi sau họ rất rất nhiều, ko thể hô hào 1 tý (hay dán cái truyền thống Thánh Gióng như 1 bác TS ở Hà-Vợt đã từng tuyên bố) là mọi thứ sẽ suôn chèo mát mái. Nhưng tôi ko nói post của anh Hưng là “rubbish”, nó có lẽ (và hy vọng) sẽ đúng với VN trong 1 tương lai gần.
Cuối cùng, commment số 2 theo tôi cũng là 1 dạng “tự sướng” khác thôi.
Ca’i na`y kho^ng pha?i la` ca~i co. gi` nhu*ng tui chi? muo^’n noi’ ro~ the^m chut la` tui lam viec ve software engineering cu~ng la^u ro^`i, va` cu~ng dda~ tu*`ng giao vie^.c (outsourcing) cho cac ky~ su* Singaporeans, ro^`i to*’i Indans, va` Philippines tu*` nhu*~ng na(m 1995-96 o*? PARC/XSoft. Co’ the^? tui kho^ng ra`nh ve^` tinh hinh software engineering o*? Viet nam trong 1 tho*`i gian da`i, nhu*ng du*.a tre^n cac hieu biet cua tui ve^` viec la`m cong nghe may tinh (?) -software development- tui nghi~ sinh vie^n VN co’ the^? la`m ddu*o*.c nhu*~ng projects lo*’n ne^’u ca? team dduoc huong da^~n chu dao va` ky luat!
C
Em có cãi cọ gì với bác C đâu nhỉ (theo lời bác thì chắc bác cũng kha khá tuổi rồi), nếu post em làm bác phật ý thì em xin lỗi, nhưng em rất thích cách trả lời của anh Hưng đại loại như kiểu của post này:
http://www.procul.org/blog/2005/06/26/kinh-d%e1%bb%8bch-va-data-mining/
Quay lại vấn đề, bác C nói hình như ko được logic lắm nhỉ, ở comment#2 bác đã nói rõ là:
“cho sinh viên Việt nam và những bạn hiện đang sống và làm việc ở VN thích tí toáy với tin học”
rồi ở comment#4 lại là :
“Co’ the^? tui kho^ng ra`nh ve^` tinh hinh software engineering o*? Viet nam trong 1 tho*`i gian da`i”
Nếu đã như vậy chẳng phải phát biểu của bác có phần chủ quan hay sao ?
Còn em xin nói thêm 1 điều nữa với bác, chả cái project open-source nào được support từ đầu bởi industry/community đâu bác ạ, nó chỉ được support khi nó CÓ TIỀM NĂNG và kết quả KHẢ QUAN mà thôi (trừ những anh có ý đồ khác như FireFox, nhưng chuyện này cũng kiểu như “Mọi người đều ghét bạo chúa, nhưng ai cũng thích làm bạo chúa !”). Thường các open-source software được các gurus làm ra và public ra ngoài, nếu tìm được sự ủng hộ thì tốt (được industry ủng hộ thì càng tốt), còn ko, nó sẽ chết lần chết mòn trên Sourceforge, có rất nhiều project trên Sourceforge mà ở đó mailing list nguội lạnh từ 2-3 năm nay, Net-Policy (http://net-policy.sourceforge.net) là 1 ví dụ, hồi xưa cũng ghê lắm cơ, tích hợp plutoplus/cerberus (http://csrc.nist.gov/ipsec/ , 1 hiện thực về IPsec/IKE) vào, thế mà khi plutoplus/cerberus chết, nó chết theo đấy ạ. Bây giờ IPsec trên Linux người ta dùng racoon (http://ipsec-tools.sourceforge.net/) cơ. Zebra/Quagga cũng là 1 ví dụ tốt nữa.
Bởi vậy cái chuyện:
“Project VieZilla or VietZilla và các projects tương tự nếu được thực hiện đúng tiêu chuẩn thì khác nào là chỗ thực tập, huấn luyện và đào tạo các visionaries, project managers, team leaders, coders, etc. tương lai với khả năng ngang hàng -và có thể vượt trội hơn- với những tay giỏi của thê giới .”
nó hơi bị impossible bác nhỉ, ai sẽ đảm bảo và tài trợ cho cái tiêu chí gọi là đúng tiêu chuẩn này đây. Chờ vào kinh phí từ thiện của Biu-Gầy chăng
!
Rất cảm ơn lời bình của các bạn, có nhiều thông tin bổ ích.
Thông điệp chính trong bài của tôi là: “tinh thần mở” (nguồn mở, kiến trúc mở) trong kỹ thuật dẫn đến “tinh thần mở” trong giải phóng tự do biểu hiện cá nhân, kích thích học tập, lao động, và sáng tạo! Và vì thế, các tổ chức tư nhân hay nhà nước nên tạo điều kiện tối đa phát huy tư tưởng mở này thì các cá nhân sẽ có điều kiện phát triển tiềm năng của họ.
Tôi không khẳng định rằng mã nguồn mở là “lối thoát” cho CNTT Việt Nam. Rất khó chứng minh rằng Linus Tovalds đã “vực dậy” CNTT Phần Lan. Và so sánh Phần Lan và VN theo “nền CNTT” thì rất khập khiễng. Tôi so sánh cá nhân với cá nhân, có cùng tài nguyên thông tin trong thời buổi Internet. Từ góc nhìn của từng cá nhân (thay vì của “nền CNTT”) thì tinh thần mở — theo tôi — là một paradigm shift.
Dù không có số liệu thống kê nào hỗ trợ, tôi vẫn tin là opensource làm lợi cho customer và programer nói chung và chỉ các công ty độc quyền là có thể thiệt hại trong cuộc đua này. Tức là trên phương diện nền kinh tế là có lợi.
Về chuyện CPVN và opensource, từ trước đến nay tôi chỉ thấy có một số quan chức của chính phủ có phát biểu lạc quan về opensource chứ không thấy một thông tin nào về việc CP dành quỹ hỗ trợ hay ứng dụng FOSS. Mong bạn VNSA-member có thể cho biết thêm về điểm này.