Thư viện bài tháng 12 năm 2005

Xin chúc mừng anh Hưng!!!

Lê Hoàng Long | 26 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Xin chúc mừng anh Hưng ngày hôm qua (26/12/2005) đã chính thức trở thành “tù nhân của hôn nhân” :-). Có điều nhà tù này được ở chung 2 người, không phải cực khổ như hai anh chị kia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Từ nay anh Hưng đã có hậu phương vững vàng, chắc chắn sức nghiên cứu và làm việc của anh sẽ còn dồi dào hơn nữa. Về mặt hình ảnh của ngày vui thì không dám post vì chưa có sự cho phép của anh Hưng và phu nhân. Nói chung, buổi lễ diễn ra đơn giản, gọn gàng nhưng vẫn đầy đủ, phù hợp với truyền thống. Cô dâu tươi roi rói trong bộ áo dài đỏ, chú rể đầy căng thẳng trong bộ áo dài xanh ;-).
Bây giờ câu hỏi kế tiếp là khi nào thì sẽ có một “Hưng con” nằm khóc oe oe… Dự đoán của tôi: trong vòng 15 tháng nữa, hihi :-D

Chủ đề: Chưa phân loại | Bình luận (6) »

Blogging mấy tuần tới sẽ khá thưa

Ngô Quang Hưng | 19 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Tôi về Sài Gòn khoảng 3 tuần, đến giữa tháng 1 mới đi. Blogging mấy tuấn tới sẽ khá thưa thớt.

Chủ đề: Thông báo | Bình luận »

Nhạc sĩ Don McLean

Ngô Quang Hưng | 12 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Một trong những nhạc sĩ viết các nhạc phẩm tribute hay nhất là Don McLean (một người nữa là Elton John). Các thính giả Việt Nam có lẽ rất quen thuộc với tuyệt tác Vincent (1971), viết về cố họa sĩ thiên tài Vincent Van Gogh.

Starry Night

Tôi không đủ ngôn từ để miêu tả cái đẹp của nhạc phẩm này. Bạn có thể nghe Vincent ở đây (RealPlayer format - chất lượng âm thanh không tốt).

Now I think I know what you tried to say to me,
How you suffered for your sanity,
How you tried to set them free.
They would not listen, they’re not listening still.
Perhaps they never will…

Năm 1973, Roberta Flack thắng giải Grammy với bài hát “Killing Me Softly with His Song” (nhạc và lời của Charles Gimble và Norman Fox). Bài này viết về Don McLean!

Ở Mỹ thì bài nổi tiếng nhất của Don McLean không phải là Vincent mà là nhạc phẩm American Pie (tôi tin rằng bài này ở VN ít người biết hơn Vincent nhiều). Tôi cực kỳ thích American Pie. Nó là bài hát số một nước Mỹ năm 1972 (năm sinh của tôi).

Lời bài hát khá quái [khó hiểu] và dài, là “đối tượng nghiên cứu” của bao nhiêu thế hệ Don McLean fans từ hơn ba mươi năm qua.

American Pie là nhạc phẩm tribute cho Buddy Holly (cùng với Richie ValensBig Popper). Ngày 2 tháng 2 năm 1959, Buddy Holly, Richie Valens, và Big Popper chết trong một tai nạn máy bay. Ngày này được mệnh danh là “the day the music die”. Buddy Holly có thể nói là tài năng lớn nhất của Rock ‘n Roll trước Elvis Presley. Nhiều người cho rằng nếu Buddy Holly còn sống thì danh hiệu ông vua Rock ‘n Roll chưa chắc đã đến tay Elvis. Hồi thập niên 80, đài truyền hình tpHCM có chiếu phim La Bamba nói về cuộc sống và sự nghiệp của Richie Valens (La Bamba, Donna, …).

American Pie phác họa toàn cảnh Rock ‘n Roll (và nhạc trẻ Mỹ nói chung) kể từ sự kiện định mệnh này cho đến cuối thập niên 60. Thập niên này là một trong những thập niên sôi động và có ảnh hưởng lớn nhất mang tính định hình văn hóa và chính trị trong lịch sử Mỹ:

  • Phong trào nữ quyền, Martin Luther King - Malcolm X - Rosa Park và Civil Rights bill, John F. Kennedy, Richard Nixon và chiến tranh Việt Nam, sự kiện khủng hoảng tên lửa Cuba, sự kiện Bay of Pigs, …
  • Phong trào hippy, Elvis Presley, the Beattles, điệu Twist, Simon & Garfunkel, Bob Dylan, Woodstock, …
  • Con chuột máy tính, the art of computer programming của Knuth, Apollo 11, hầu hết các khoa KHMT lớn của Mỹ được thành lập, ngôn ngữ Pascal, Unix [bắt đầu được viết từ 1969], Neil Armstrong, Alan Shepherd, và Apollo 11, …

American Pie “bắt” cực tốt không khí sôi sục này. Có lẽ the annotated American Pie là tài liệu bình luận và giải thích American Pie đầy đủ nhất trên Internet. Năm 2000, Madonna cover lại American Pie và phiên bản này đứng đầu Billboard vài tuần năm 2000. Sau đây là toàn bộ lời của American Pie:

A long, long time ago…
I can still remember
How that music used to make me smile.
And I knew if I had my chance
That I could make those people dance
And, maybe, they’d be happy for a while.

But february made me shiver
With every paper I’d deliver.
Bad news on the doorstep;
I couldn’t take one more step.

I can’t remember if I cried
When I read about his widowed bride,
But something touched me deep inside
The day the music died.

So bye-bye, miss american pie.
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
And them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
Singin’, “this’ll be the day that I die.
“this’ll be the day that I die.”

Did you write the book of love,
And do you have faith in God above,
If the Bible tells you so?
Do you believe in rock ’n roll,
Can music save your mortal soul,
And can you teach me how to dance real slow?

Well, I know that you’re in love with him
`cause I saw you dancin’ in the gym.
You both kicked off your shoes.
Man, I dig those rhythm and blues.

I was a lonely teenage broncin’ buck
With a pink carnation and a pickup truck,
But I knew I was out of luck
The day the music died.

I started singin’,
“bye-bye, miss american pie.”
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
Them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
And singin’, “this’ll be the day that I die.
“this’ll be the day that I die.”

Now for ten years we’ve been on our own
And moss grows fat on a rollin’ stone,
But that’s not how it used to be.
When the jester sang for the king and queen,
In a coat he borrowed from james dean
And a voice that came from you and me,

Oh, and while the king was looking down,
The jester stole his thorny crown.
The courtroom was adjourned;
No verdict was returned.
And while lennon read a book of marx,
The quartet practiced in the park,
And we sang dirges in the dark
The day the music died.

We were singing,
“bye-bye, miss american pie.”
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
Them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
And singin’, “this’ll be the day that I die.
“this’ll be the day that I die.”

Helter skelter in a summer swelter.
The birds flew off with a fallout shelter,
Eight miles high and falling fast.
It landed foul on the grass.
The players tried for a forward pass,
With the jester on the sidelines in a cast.

Now the half-time air was sweet perfume
While the sergeants played a marching tune.
We all got up to dance,
Oh, but we never got the chance!
`cause the players tried to take the field;
The marching band refused to yield.
Do you recall what was revealed
The day the music died?

We started singing,
“bye-bye, miss american pie.”
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
Them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
And singin’, “this’ll be the day that I die.
“this’ll be the day that I die.”

Oh, and there we were all in one place,
A generation lost in space
With no time left to start again.
So come on: jack be nimble, jack be quick!
Jack flash sat on a candlestick
Cause fire is the devil’s only friend.

Oh, and as I watched him on the stage
My hands were clenched in fists of rage.
No angel born in hell
Could break that satan’s spell.
And as the flames climbed high into the night
To light the sacrificial rite,
I saw satan laughing with delight
The day the music died

He was singing,
“bye-bye, miss american pie.”
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
Them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
And singin’, “this’ll be the day that I die.
“this’ll be the day that I die.”

I met a girl who sang the blues
And I asked her for some happy news,
But she just smiled and turned away.
I went down to the sacred store
Where I’d heard the music years before,
But the man there said the music wouldn’t play.

And in the streets: the children screamed,
The lovers cried, and the poets dreamed.
But not a word was spoken;
The church bells all were broken.
And the three men I admire most:
The father, son, and the holy ghost,
They caught the last train for the coast
The day the music died.

And they were singing,
“bye-bye, miss american pie.”
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
And them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
Singin’, “this’ll be the day that I die.
“this’ll be the day that I die.”

They were singing,
“bye-bye, miss american pie.”
Drove my chevy to the levee,
But the levee was dry.
Them good old boys were drinkin’ whiskey and rye
Singin’, “this’ll be the day that I die.”

Chủ đề: Âm Nhạc | Bình luận (2) »

Tạp chí Nature và KHMT

Ngô Quang Hưng | 10 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Nature là một trong những tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới. Tuy nhiên, các đề tài của Nature hầu như không bao giờ ra ngoài Y, Sinh, Vật Lý. Vì thế, cực kỳ hiếm khi ta thấy các nghiên cứu trong KHMT hay toán học xuất hiện ở Nature, trừ phi nó có liên quan mật thiết đến các ngành chủ đạo kể trên. (Một ngoại lệ mà tôi biết là một bài báo của Jon Kleinberg đăng hồi năm 2000 về hiện tượng “thế giới nhỏ” (small-world phenomenon). Bài báo này cũng chẳng có chi tiết kỹ thuật gì mấy, chỉ là giới thiệu một nhánh nghiên cứu thú vị là chính. Dịp khác ta sẽ bàn về đề tài này.)

Vì ban biên tập của Nature không đủ chuyên môn để thẩm định các bài báo nằm ngoài các ngành chính như trên, đôi khi Nature cho đăng các bài báo với chất lượng kém. Bruce Schneier vừa chỉ ra một bài báo như vậy trong ngành cryptography.

Chủ đề: Chính trị trong ngành & Xuất bản | Bình luận (2) »

Lưu ý về viết lời bình trong blog

Ngô Quang Hưng | 10 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Vì muốn phần lời bình dùng được các html tag như <a> ... </a> hay <b> ... </b>, nếu comment của bạn có các ký hiệu < và > thì có khả năng phần text đi sau ký tự “<” sẽ bị hiểu là html code, và vì thế không hiển thị được.

Để khắc phục tình trạng này, thay “<” bằng “& #60;” (không có khoảng trống) và thay “>” bằng “& #62;” (không có khoảng trống)

Chủ đề: Thông báo | Bình luận »

Một bài puzzle nữa về sequential decision

Nguyễn Xuân Long | 10 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Bài này cũng tương tự như (có lẽ dễ hơn một chút) bài toán thổi bóng . Khác ở đây là các quả bóng đã được thổi sẵn :-), nhưng dẫu sao cũng thuộc một dạng optimal sequential decision making problem:

Giả sử có n quả bóng đã được thổi, có thể tích 1, 1/2, 1/3, \ldots ,1/ n để trong một cái giỏ. Bạn bị bịt mắt và chỉ có thể dựa vào khả năng so sánh 2 quả bóng trong tay xem quả nào lớn hơn mà thôi. Đầu tiên, bạn sẽ nhặt hoàn toàn ngẫu nhiên một quả bóng trong giỏ. Sau đó tiếp tục như sau: Tại từng thời điểm, bạn nhặt hoàn toàn ngẫu nhiên thêm một quả trong giỏ, so sánh quả vừa nhặt và quả đang có trong tay, so sánh xem quả nào lớn/nhỏ hơn và sẽ giữ lại một quả trong số hai quả đó. Quả bóng đã bỏ đi rồi thì không được nhặt lại nữa. Hỏi làm thế nào nhặt ra được quả bóng lớn nhất (quả có thể tích 1), với xác suất cao nhất? Xác suất cao nhất ấy là bao nhiêu (khi n tiến tới vô hạn)?

Trích từ: Optimal stopping rules. A. N. Shiryayev. Springer-Verlag, 1978.

Chủ đề: Lý thuyết thông tin & Thuật Toán & Toán tối ưu & Trí tuệ nhân tạo & Xác suất & thống kê | Bình luận (1) »

Gợi ý cho một series bài mới

Ngô Quang Hưng | 07 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Một post ở Computational Complexity weblog liệt kê một danh sách các kết quả đáng ngạc nhiên và lớn trong lý thuyết tính toán 75 năm qua. Từ từ tôi sẽ duyệt qua từng kết quả một, nhưng có lẽ sẽ phải viết bằng tiếng Anh. Viết tiếng Việt phải suy nghĩ xem dịch thế nào tốn thời gian quá. À quên, blog đã có series bài thích hợp: “các bài báo kinh điển của KHMT“, không cần series mới.

Danh sách này dĩ nhiên là chủ quan của người viết (Bill Gasarch), nhưng nó phác họa khá tốt bức tranh lý thuyết tính toán. Một số kết quả đã được thảo luận sơ lược trong một bài viết trước (PDF) của blog này.

Chủ đề: Lý thuyết tính toán & Thuật Toán | Bình luận »

Sức mạnh của xác suất [5]

Ngô Quang Hưng | 06 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Bài toán đố sau là do Mohammad Mahdian truyền bá ở hội nghị FOCS 2005, biết thông qua 3dpancakes.

n \geq 2 quả bong bóng (chưa thổi) với thể tích 1, 1/2, \dots, 1/n. Ta không biết bóng nào có thể tích nào. Thổi quá thể tích thì bóng vỡ. Tìm một phương pháp thổi ngẫu nhiên hóa sao cho tổng thể tích kỳ vọng (expected volume) của không khí trong các bóng (chưa vỡ) là lớn nhất. Ví dụ:

  • Thổi tất cả các bóng đến thể tích 1. Kết quả là 1 vì (n-1) bóng còn lại vỡ mất.
  • Thổi tất cả các bóng đến thể tích 1/n. Kết quả là 1 vì không có bóng nào vỡ.
  • Chọn một thứ tự ngẫu nhiên, thổi thể tích 1 đến quả đầu tiên không vỡ, sau đó thổi thể tích 1/n. Thể tích kỳ vọng sẽ là
    \sum_{i=1}^n\frac 1 n \cdot \left( 1 + \frac{n-i}{n} \right) = \frac 3 2 - \frac{1}{2n}

    Thể tích này gần khoảng 1.5 khi n lớn.

Có cách nào làm tốt hơn 1.5 không?

Chủ đề: Xác suất & thống kê | Bình luận (7) »

Thể thao mới: Boxing Cờ Vua

Ngô Quang Hưng | 06 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Chess Boxing

Boxing cờ vua đánh 11 hiệp, 6 hiệp cờ vua và 5 hiệp boxing thay phiên nhau. Theo hội boxing cờ vua thế giới, môn này nhằm kết hợp môn thể thao bạo lực nhất với môn thể thao trí tuệ nhất.

Môn này gợi ý một thể thao khác: lập trình vài tiếng rồi xuống … hít đất vài cái.

Chủ đề: Vui - Giải Trí | Bình luận »

Nhân ma trận, DFT, và lý thuyết biểu diễn nhóm (3)

Ngô Quang Hưng | 04 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Trong các bài trước, tôi đã đề cập sơ qua về nhân ma trậnbiến đổi Fourier rời rạc. Chủ đề lần này là lý thuyết biểu diễn nhóm. Trong các bài tới ta sẽ liên hệ chúng với nhau.

Đại khái, lý thuyết biểu diễn nhóm cho phép ta nghiên cứu các nhóm (trong đại số trừu tượng) dùng đại số tuyến tính. Bằng cách này, một số vấn đề, đặc tính của các nhóm trừu tượng có thể được giải quyết và tìm hiểu dùng các công cụ của đại số tuyến tính. Tôi đặc biệt giới thiệu quyển Algebra của Michael Artin và quyển The Symmetric Group của Bruce Sagan. Hai quyển này giới thiệu lý thuyết biểu diễn nhóm rất tốt.

Trước hết ta định nghĩa biểu diễn ma trận (matrix representation) của một nhóm. Một biểu diễn ma trận n chiều (n-dimensional matrix representation) của một nhóm G là một phép đồng cấu (homomorphism)

R: G \rightarrow GL_n(F)

Trong đó F là một trường (field), ví dụ như trường số phức; còn GL_n(F) là nhóm tuyến tính tổng quát (general linear group) bậc n trên F.

Tổng quát hơn, ta không nhất thiết phải biểu diễn nhóm bằng các ma trận. Gọi V là một không gian vector có số chiều hữu hạn. Gọi GL(V) là nhóm tuyến tính tổng quát trên V, nghĩa là GL(V) là tập hợp các toán tử tuyến tính khả nghịch (invertible linear operator). Một phép biểu diễn của nhóm G trên không gian V là phép đồng cấu

\rho : G \to GL(V)

Ta dùng \rho_g để ký hiệu ảnh của phần tử g \in G. Nếu ta có một bộ vector cơ sở của V thì ta có thể dễ dàng chuyển \rho thành một phép biểu diễn ma trận. (Trong trường hợp đó, mỗi phần tử g \in G sẽ có tương ứng một ma trận khả nghịch \rho_g.)

Trong phần còn lại của bài này, để đơn giản vấn đề ta chỉ xét V là một không gian tuyến tính n chiều trên trường số phức (hiểu là V = \mathbb{C}^n). Như hầu hết các đối tượng trừu tượng khác trong toán học, ta tìm cách chia một phép biểu diễn nhóm thành các thành phần nhỏ hơn, cho đến khi “tối giản”. Từ đó, ta có thể nghiên cứu một cấu trúc lớn bằng các cấu trúc tối giản — ràng buộc cấu trúc chặt chẽ hơn.

Cho trước một phép biểu diễn \rho của G trên không gian V, một bilinear form \langle  \cdot, \cdot \rangle được gọi là G-invariant nếu, với mọi v, w \in Vg \in G ta có

\langle v ,w \rangle = \langle \rho_g(v), \rho_g(w) \rangle

Cho trước một positive definite hermitian form \{\cdot, \cdot\} trên không gian V, dễ chứng minh rằng cái form sau đây là G-invariant, và positive definite hermitian:
\langle v, w \rangle = \frac{1}{N} \sum_{g \in G} \{\rho_g(v), \rho_g(w)\}

trong đó N = |G|.

Một không gian con W của V được gọi là G-invariant nếu, với mọi w \in Wg \in G ta có \rho_g(w) \in W. Nếu \rho không có không gian con G-invariant nào ngoài chính V\{\vec{0}\} thì \rho được gọi là là một phép biểu diễn tối giản của G.

Nếu V là tổng trực tiếp (direct sum) của hai không gian con G-invariant W_1W_2, ký hiệu là V = W_1 \oplus W_2, thì phép biểu diễn \rho trên V được xem là tổng trực tiếp của \rho_1\rho_2, viết là \rho = \rho_1 \oplus \rho_2, trong đó \rho_1\rho_2 là các giới hạn của \rho trên W_1W_2, theo thứ tự. Dĩ nhiên, nếu \rho là phép biểu diễn tối giản, thì \rho không phải là tổng trực tiếp của các phép biểu diễn khác, ngoại trừ cái tổng tầm thường V \oplus \{O\}.

Dùng kết luận vừa đề cập ở trên rằng tồn tại một G-invariant và positive definite Hermitian form trên V nếu V là một không gian vector phức, ta có thể chứng minh định lý Maschke không khó khăn lắm.

Định lý Maschke: bất kỳ phép biểu diễn (phức) nào trên một nhóm hữu hạn G đều là tổng của các phép biểu diễn tối giản.

Chủ đề: Thuật Toán | Bình luận (2) »

Trái tim bên lề…

Lê Hoàng Long | 03 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Đây là một video clip (2.85Mb) về nỗi đau khổ của grad student. Mời mọi người cùng thưởng thức :-)!

Chủ đề: Vui - Giải Trí | Bình luận »

Tự do tí toáy

Ngô Quang Hưng | 01 tháng 12, 2005 | Bản để in Bản để in

Từ thời mở cửa, có lẽ hai khái niệm “mở” được nhắc đến nhiều nhất là “thị trường mở” và “mã nguồn mở”. Hai khái niệm khác, không kém phần quan trọng, nhưng ít được nhắc hơn là “kiến trúc mở” (của Internet) và “tinh thần mở” (open-mindedness). Hoàn toàn có thể lý luận một cách thuyết phục rằng bốn khái niệm mở này đóng vai trò thiết yếu cho sự phát triển và hội nhập của Việt Nam (hay bất kỳ quốc gia nào khác) trong thế kỷ 21. Bài này lạm bàn xung quanh hai “mở” kỹ thuật: mã nguồn và kiến trúc Internet, để bạn đọc tự liên hệ song song đến hai khái niệm mở xã hội và cá nhân còn lại.

1. Mã nguồn mở

Trong bài “sự dịch chuyển của mẫu hình mã nguồn mở” (open source paradigm shift), Tim O’Reilly – CEO của nhà xuất bản kỹ thuật O’Reilly nổi tiếng – lập luận rằng phong trào mã nguồn mở và mã nguồn miễn phí là một paradigm shift của công nghệ và khoa học máy tính. Khái niệm paradigm shift trong khoa học đầu tiên được triết gia Thomas Kuhn mô tả trong quyển sách lừng danh “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học”. Đại khái, Kuhn lý luận rằng khoa học không phát triển tuyến tính mà thỉnh thoảng có các bước nhảy vọt khổng lồ gọi là một paradigm shift. (Ví dụ: Newton và Einstein đánh dấu hai bước nhảy vọt của Vật Lý.)

Không ở tầm vực như các định luật Newton hay thuyết tương đối, nhưng quả thật phong trào mã nguồn mở về căn bản đã định hình lại ngành công nghiệp phần mềm thế giới và các mô hình kinh doanh của họ; phá hủy (hoặc cân bằng lại) các thế lực trong thế giới CNTT; làm giảm khoảng cách và sự phụ thuộc công nghệ của các nước chậm phát triển đến các chàng khổng lồ; truyền cảm hứng cho một loạt các phong trào “kiến thức mở” khác như phong trào wiki và các thư viện trực tuyến, chia sẻ tiến độ nghiên cứu công nghệ sinh học và y học, phong trào chia sẻ các nội dung điện tử qua Creative Commons License; khuấy đảo và thay đổi các quan niệm truyền thống về luật bằng phát minh/sáng chế và các loại bằng sở hữu trí tuệ khác; làm bối rối các nhà hoạch định chính sách CNTT của các nhà nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ; thách đố các nhà kinh tế khi cơ man nào là các lập trình viên hàng đầu và cả các công ty lớn tham gia trò chơi “cho không” này; khởi tạo mô hình hợp tác phát triển sản phẩm một cách phân bố; thậm chí một số các nhà khoa học xã hội đã và đang phát triển ý tưởng nguồn mở vào các mô hình dân chủ hóa quản lý nhà nước.

Để phân tích và dẫn chứng toàn bộ các ảnh hưởng trên của mã nguồn mở, ta cần một vài quyển sách. Thay cho một thảo luận toàn diện, ta xét một ví dụ kinh điển và phần nào … giật gân.

Các tài liệu Halloween là một chuỗi các báo cáo nội bộ của Microsoft về các chiến lược đối chọi với phong trào phần mềm mã nguồn mở nói chung và Linux nói riêng. Tài liệu Halloween số 1 bị lộ ra ngoài cuối tháng 10 năm 1998, đến tay một lập trình viên có tiếng là Eric Raymond. Eric đăng luôn lên website của anh cùng với lời bình. Microsoft đã nhận rằng tài liệu này là thật, tuy nhiên không nhận rằng đó là tài liệu chiến lược kinh doanh, mà chỉ là nghiên cứu kỹ thuật. Tài liệu Halloween số 2 nói riêng về Linux (thay vì phần mềm mã nguồn mở nói chung) cũng ở tình trạng tương tự ngay sau đó. Một chuỗi các báo cáo, đính chính, phát biểu từ Microsoft liên quan đến các tài liệu này cũng bị lộ từ năm 1998 đến nay, và được đánh số từ 3 đến 11. Các tài liệu thú vị này vẽ một bức tranh nhiều màu sắc trong quan hệ giữa các đối trọng phần mềm thế giới. Ví dụ như vụ Microsoft tuồn cho SCO 86 triệu đô để “oánh” Linux (và vì thế, IBM) được tiết lộ ở Halloween 9 & 10. Khi Microsoft dồn nhân/vật lực vào cái gì thì hẳn là cái đó đã/đang có tiềm năm cực lớn: chiến tranh browser với Netscape, chiến tranh search engine với Google, chiến tranh hệ điều hành với GNU/Linux, chiến tranh trong thị trường Game với Sony, v.v.

2. Kiến trúc mở của Internet

Có thể nói không ngoa là các phong trào mã nguồn mở, mã nguồn miễn phí sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có Internet. Internet cho phép các lập trình viên trên toàn thế giới học hỏi và trao đổi kiến thức, hợp tác từ xa phát triển các dự án phần mềm. Giải thưởng Turing (tương đương với Nobel cho ngành khoa học máy tính) năm qua đã về tay các tiến sĩ Vinton Cerf và Robert Kahn, những người phác thảo kiến trúc Internet, thiết kế giao thức TCP/IP, và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hiện thực hóa Internet trong khoảng 30 năm nay.

Hai yếu tố quan trọng nhất làm Internet bùng phát là kiến trúc mở và nguyên tắc thiết kế end-to-end (E2E, tạm dịch là “từ đầu này đến đầu kia”).

Đầu những năm 1960, các ý tưởng khởi điểm về mạng chuyển gói (packet switched networks) dẫn đến mạng ARPANET do phòng nghiên cứu bộ quốc phòng Mỹ (DARPA) tài trợ. Cùng năm này mạng chuyển gói radio đầu tiên (ALOHA Net) bắt đầu làm việc. Cùng với sự ra đời của email cuối 71, đầu 72, và phác thảo ý tưởng về mạng cục bộ Ethernet, Robert Kahn nhận rõ sự cần thiết của việc nối các mạng khác nhau với nhau để chia sẻ tài nguyên và thông tin. Kahn phác thảo ý tưởng về một cấu hình mạng mở (open networking architecture) trong đó các mạng với kiến trúc, cấu hình máy, hệ điều hành … khác nhau có thể nối kết với nhau. Cái mạng của các mạng này được gọi là Internet. Đến đầu năm 1973, Kahn hợp tác với Cerf để phát triển bộ giao thức TCP/IP – cái mà hầu hết các máy tính nối mạng hiện nay đều dùng. Cấu trúc mở đã cho phép các nhà sản xuất phần cứng, phần mềm phát triển và sáng tạo sản phẩm mạng độc lập nối mạng với nhau.
Dù có phát triển và thích nghi, các ý tưởng căn bản của TCP/IP đứng vững trước bao nhiêu kỹ thuật mạng mới, bao nhiêu trăm triệu máy mới nối mạng, nghìn vạn các ứng dụng mới của Internet mà dù Cerf và Kahn có mơ cũng không thể thấy hết. Đây là bằng chứng hùng hồn cho một ý tưởng lớn.

Nguyên tắc E2E đại loại có nghĩa là: các chức năng của mạng càng đơn giản càng tốt, để các máy tính nối mạng thực hiện các tác vụ phức tạp, còn bản thân Internet chỉ cần cố hết sức gửi một gói dữ liệu từ đầu này đến đầu kia. Nguyên tắc này có ảnh hưởng tuyệt đối lớn đến sự phát triển các ứng dụng quan trọng nhất trên mạng Internet toàn cầu, vì nó cho phép người sử dụng (thay vì người cung cấp dịch vụ mạng) sáng tạo và phát triển các ứng dụng mới mà không bị mạng làm phiền (mạng chỉ có chức năng chuyển giao các gói dữ liệu, không ngăn cản/lọc/thay đổi dữ liệu).

Bằng chứng hùng hồn cho tầm quan trọng của nguyên tắc E2E là các ứng dụng như email, World Wide Web, ứng dụng P2P (Napster, Gnutella, Kazaa), các công cụ chat (và webcam), search engines (như Google), … đều do người dùng Internet sáng tạo và phát triển. Nếu không có cấu trúc mở theo nguyên tắc E2E thì một vài công ty cung cấp dịch vụ mạng đã không thể nào phát triển các ứng dụng trên Internet vũ bão như thế trong 30 năm qua.

3. Tự do tí toáy

Mô hình mã nguồn mở và kiến trúc mở trên nguyên tắc E2E của Internet có một điểm chung: cho phép người dùng “tự do tí toáy”. Bằng cách này, chúng tạo nền tảng và khuyến khích tiềm năng sáng tạo vô hạn từ toàn bộ nhân loại. Tính “mở” cho phép các cá nhân có tiếng nói riêng, đóng con dấu lao động và sáng tạo của bản thân vào quá trình phát triển của thế giới. Động lực của sự “cá nhân hóa” này có sức mạnh đáng kinh ngạc như đã minh chứng.

Một xu hướng đáng lo ngại là gần đây các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các tổ chức chính phủ đang càng lúc càng nhúng sâu vào việc vi phạm nguyên tắc E2E. Các gói dữ liệu bị tường lửa lọc vì lý do tôn giáo, chính trị, văn hóa. Nhiều công ty viễn thông và cáp truyền hình cài đặt các bộ lọc VoIP để không cho phép gọi điện thoại qua Internet vì lý do cạnh tranh kinh tế. Các dòng dữ liệu đa phương tiện cũng bị nhiều ISP phân biệt đối xử. Vint Cerf, Bob Kahn, và rất nhiều nhà khoa học khác đang tích cực tham gia thuyết phục chính quyền Mỹ ngăn cản xu hướng này. Thật đáng buồn khi các mục tiêu kinh tế ngắn hạn hay các chuẩn mực tôn giáo, văn hóa độc đoán lại dựng nên rào cản dài hạn kiềm hãm sự sáng tạo của nhân loại. Tìm một điểm cân bằng hữu lý giữa các giá trị xã hội ngắn hạn và các giá trị vĩnh hằng của lao động và sáng tạo là trách nhiệm rất lớn của các nhà hoạch định chính sách.

Tự do tí toáy chính là cái paradigm shift của khoa học, công nghệ, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa thế giới trong hơn 30 năm bùng nổ CNTT vừa qua. Tự do tí toáy đang dần san phẳng bao nhiêu rào cản, biên giới địa-chính trị, kinh tế, tri thức, … tạo nên một “thế giới phẳng” (theo tựa đề quyển “Thế giới phẳng: lược sử thế kỷ 21” của nhà báo Thomas Friedman). Phiên bản “toàn cầu hóa 3.0” đang được phát triển không phải bởi các tập đoàn xuyên quốc gia khổng lồ hay tổ chức tiền tệ thế giới, mà bởi cơ man nào là các cá nhân thấp cổ bé họng, ngồi cạnh chiếc PC nối mạng, học tập, lao động, và sáng tạo từng phút từng giây.

Tự do tí toáy là cơ hội nghìn năm một thủa cho các nhân tài đất Việt vươn ra thế giới: học hỏi, lao động, sáng tạo. Một đất nước chỉ nhỉnh hơn 5 triệu dân như Phần Lan mà sản sinh ra được Linus Tovalds thì không lý nào 80 triệu dân Việt Nam lại chỉ đem dịch các phần mềm mã nguồn mở sang tiếng Việt. Cơ hội của quả đất phẳng đã san bằng sân chơi tri thức, đặc biệt là tri thức CNTT. (Xem gợi ý.)

Tự do tí toáy là phương tiện cực kỳ cụ thể để các cá nhân thực hiện quyền tự do biểu hiện, một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Đây chính là cái ngòi nổ cho các phong trào tri thức mở của thế giới, giải phóng tiềm năng sáng tạo vô hạn của nhân loại. Tạo điều kiện tối đa cho sự tự do tí toáy là một trong những điều kiện tiên quyết cho phát triển về nhiều mặt trong kỷ nguyên mới.

Chủ đề: CNTT các nước và VN | Bình luận (7) »