Có đề tài nào muôn thuở hơn cái song đề (dilemma) này cho các du học sinh không? Tôi có lướt qua ý này trong một bài viết vài năm trước. Mới đây, bài “250 triệu USD đổ biển mỗi năm” ở Tuổi Trẻ đặt trách nhiệm kéo chất xám về nước lên vai các nhà làm chính sách.
Tôi cần nghiên cứu kỹ hơn về tình hình du học sinh ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore trong vài chục năm trở lại đây để có thể khẳng định chính xác. (Bạn nào có nghiên cứu về đề tài này xin bình luận!) Phản ứng trực quan của tôi với bài này là: không hẳn như thế. Rõ ràng đầu tư ngắn hạn thì mất chất xám kiểu đó là lỗ, nhưng về lâu về dài thì 250 triệu USD đó không đổ biển chút nào.
Hãy lấy một cực của mệnh đề (dù làm điều này không logic lắm): giả dụ tất cả các du học sinh đều về ngay sau khi đi học. Tôi cho rằng như vậy mới là phí 250 triệu USD mồi năm. Tân thạc sĩ/tiến sĩ chưa đi làm thì vẫn chỉ có mớ kiến thức hàn lâm thiếu thực tế. Có nghìn vạn thứ để học sau khi có cái bằng: tổ chức nhóm làm việc, quá trình nghiên cứu, viết đề án, quản lý công ty, quản lý dự án, thuyết phục nhà tài trợ, vân vân và vân vân. Những thứ này khó chẳng kém quy hoạch tuyến tính hay thuật toán xấp xỉ.
Còn nữa, ta cần một (vài) thế hệ cựu du học sinh thành đạt ở nước ngoài vì ba lý do:
- Họ truyền cảm hứng cho các thế hệ tiếp theo: người Việt mình cũng làm được nhiều việc gây tiếng vang (ví dụ 1, ví dụ 2, vân vân). Một ngày không xa sẽ có anh/chị Mít nào đó giật giải Nobel, Fields, hay Turing. Khả năng họ đạt được thành tựu này ở nước ngoài lớn hơn vạn lần ở trong nước, đơn thuần vì lý do hậu cần.
- Một mạng lưới các giáo sư, tiến sĩ Việt Nam ở các trường đại học, phòng nghiên cứu lớn trên thế giới sẽ có tiềm năng rất cao giúp đỡ các thế hệ sinh viên về sau. Mạng lưới các managers, CFO, CIO, thậm chí CEO Việt ở các công ty hàng đầu cũng thế. Thậm chí chỉ cần một kỹ sư bình thường cũng có thể giúp nhiều cho đồng hương.
Về mặt hàn lâm, bài viết của anh Hồ Tú Bảo trong blog này cho một ví dụ của những việc mà các chuyên gia Việt ở ngoài nước có thể (và đã) đóng góp cho Việt Nam. Ví dụ khác: tôi biết nhiều bạn bè đang giảng dạy ở các trường đại học ở Âu, Mỹ, Úc; họ [và bản thân tôi] đã và đang giúp cho nhiều sinh viên Việt Nam sang học ở nơi họ giảng dạy. Nếu không phải là người Việt, thì hoàn toàn không có lý do gì họ chọn sinh viên Việt Nam thay vì sinh viên Tàu hay Ấn. Một hồ sơ thông thường của sinh viên Việt Nam thua hồ sơ thông thường của sinh viên Tàu và Ấn nhiều (thua kém từ điểm GRE, TOEFL, đến GPA và danh tiếng của trường đại học). - Và tôi tin rằng, đa phần họ chẳng chóng thì chầy sẽ trở về. Về trong một vị thế có thể đóng góp ở tầm vực lớn hơn nhiều so với “về ngay” và lặn ngụp trong đống cơm áo gạo tiền. Ví dụ: khi một công ty do người gốc Việt làm chủ cần out-source thì Việt Nam là chọn lựa hợp cả tình lẫn lý.
Ngược lại, những người “về ngay” cũng đã và sẽ làm được nhiều việc hay ho. Có thể họ không được trọng dụng đúng với trình độ đã học được, nhưng phương pháp tư duy mới, tính năng động sáng tạo là những thứ giúp họ có thể thành công trong nhiều loại công việc khác nhau. Anh nào đì đẹt mãi thì không hẳn là chỉ vì “cơ chế”.
Đáng lẽ bài báo ở Tuổi Trẻ nên so sánh với cả việc không cho ai đi học hết (nghĩa là không tốn 250 triệu USD một năm [sic]). Tôi cho rằng làm thế thì ta còn mất nhiều hơn gấp bội!
Nói đi thì cũng phải nói lại. Tôi hiểu ý chính của bài báo này, và đồng ý với tác giả rằng nhà nước cần có cơ chế đãi ngộ nhân tài hiệu quả hơn. Tìm cái equilibrium của về/ở không thuần túy là chọn lựa cá nhân.

7 Comments
Về bài báo “250 triệu USD đổ biển mỗi năm ” của tác giả Phạm Thị Ly có lẽ cần phải viết ít nhất 2 bài phân tích 2 vấn đề (trong hai vế): con số “250 triệu USD” và liệu khoản đầu tư này có thực sự là “đổ biển” hay không? Tác giả Ngô Q Hưng đã phân tích một số khía cạnh vế thứ hai, nên tôi sẽ chỉ tập trung vào vế thứ nhất về sự không chính xác của những số liệu đã được đưa ra trong bài viết đăng trên tuổi trẻ online.
Theo tôi con số 250 triệu USD là…. quá phóng đại, chúng ta hãy thử làm vài phép tính đơn giản để thấy rõ điều này.
Học bổng nhà nước cấp cho một du học sinh (DHS) sau đại học giả sử là 30K (30,000) USD/ năm, hàng năm nhà nước gửi đi đào tạo 300 người, vậy chi phí đào tạo sẽ là 9 triệu USD, nếu giả sử đó chỉ là 60% tòan bộ chi phí – vì còn những chi phí quản lý, hành chính, bảo hiểm, vv, khác cứ cho là nó ngốn mất tận 40% kinh phí đi – thì cùng lắm chính phủ mới chi cho đào tạo “vẻn vẹn” 15 triệu USD. Thực tế thì chính phủ chi ít hơn số đó nhiều, vì đánh giá như ở trên đưa ra giá trị chặn trên.
Tiếp theo, chúng ta xét đến khỏan tài chính mà giới tư nhân (gia đình hoặc các tổ chức cá nhân) đầu tư cho việc gửi DHS ra NN. Với tổng số 38,000 DHS được đưa ra, chúng ta có thể an tòan giả sử là khỏang 10,000 SV Việt nam hàng năm đi du học. Theo như bài báo 65% trong số họ là SV tự túc, tức là chừng 6,500 SV hàng năm. Khỏan tài chính đầu tư cho 1 DHS giả sử là 12K/năm, vậy chúng ta có thể đánh giá tổng số đầu tư của giới tư nhân cho việc đào tạo SV ở nước ngòai hiện nay là ở mức ~78 triệu USD. Thực tế, nó phải ở mức ít hơn những đánh giá ở đây bởi vì:
+) Du học Mỹ: Đại đa số SV Việt Nam được nhận học bổng bán phần do các tổ chức hoặc chính phủ nước ngòai cấp nếu họ du học ở những nước có mức học phí cao. Càng học lên cao cơ hội kiếm được hỗ trợ tài chính ở nước sở tại càng lớn, nên đầu tư cá nhân từ phía VN sẽ giảm theo. Thực tế, rất hiếm có gia đình VN nào phải đầu tư đến 60K USD cho 4 năm du học của con em mình, tức là phải đầu tư ở mức 15K/năm. Với con số hơn 1000 DHS đi Mỹ năm ngóai [data 2004, trong đó từ phía Bắc hơn 400, còn phía Nam hơn 600], tỷ trọng số DHS đi Mỹ chỉ chiếm 10-12% tổng số tất cả DHS ra đi hàng năm. Ngòai ra có thể ước tính khỏan đầu tư trong việc gửi DHS đi Mỹ hiện nay ở mức ~20 triệu USD/năm (tính ở mức ~ 20K/năm cho 1 SV).
+) Du học các nước khác: Đầu tư cho du học ở Âu châu lục địa cũng rất rẻ so với Mỹ, vì học phí ở những trường công lập (eg. Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển, etc) không lớn, chủ yếu tốn kém là sinh họat phí. Chi phí đào tạo ở những nước nói tiếng Anh như Úc/Canada thường cũng chỉ bằng ~60% so với chi phí ở Mỹ, chưa tính đến du học Nga, Ucraine, Thái lan hay Trung Quốc, chi phí đầu tư của gia đình cho con em đi du học còn nhỏ hơn nữa. Đầu tư trung bình cho 1 SV những nhóm du học này ~10K/năm.
Kết hợp hết những đánh giá như trên, chúng ta thấy đầu tư của chính phủ cho DHS là không lớn, 10-15 triệu USD hàng năm, và đầu tư của phía tư nhân lớn gấp 4-6 lần số đó.
Tóm lại, con số 250 triệu USD là con số giật gân bị thổi phồng. Đánh giá sát thực tế hơn thì khỏan đầu tư cho DHS hiện nay của cả chính phủ và tư nhân chỉ ở mức 60-100 triệu USD, và trong đó tỷ trọng “đầu tư” của chính phủ là không lớn, còn phần của tư nhân đã chiếm đến ~ 80% và sẽ còn gia tăng mạnh. Tác giả Phạm Thị Ly có lý khi nhắc đến vai trò của chính phủ trong việc cải tạo môi trường làm việc để thu hút ngày càng nhiều cá nhân xuất sắc về nước làm việc, nhưng đã không đưa ra được một đề xuất cụ thể nào cho vấn đề này cả!
Theo những thống kê mới nhất, chừng 50% những SV nước ngòai sau khi làm xong PhD ở Mỹ muốn ở lại Mỹ làm việc, tỉ lệ này ở Canada còn cao hơn: 60%. Xin nói thêm là thị trường lao động ở cả 2 nước này cũng đang khá dư thừa PhD do chính họ SX ra ở hầu hết các ngành, nhưng các tân PhD nước ngòai vẫn muốn ở lại để được làm việc, được thử sức, tại sao ? Đó là điều đáng suy nghĩ phải vậy không ?
Viết bởi Sonnet Nguyen
Anh Sonnet, chắc phải nhân 15 triệu với 5 năm chứ hả, vì thế hệ này nối thế hệ kia, và cho là trung bình sinh viên tiến sĩ học 5 năm.
Viết bởi A Reader
Thank you, nhân 2.5 chứ không phải nhân 5.
Hmmm, ứng cử viên tiến sĩ có thể học 5 năm, 8 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng học bổng của chính phủ cấp chỉ là 3 năm. Trước 2005, chi phí bị chặn trên là 20K/y, từ 2005 sẽ là 22K/y, theo như đề án 322 của Bộ GD-ĐT. Ngày nay CT này còn có khuynh hướng ĐT 1-2 năm trong nước nữa, nên thời gian ĐT NN sẽ ngắn hơn. Học bổng cho du học ĐH là 4 năm (chủ yếu đi xin NN chứ 0 chi từ ngân sách), còn học bổng thạc sĩ là 2 năm. Ví dụ ngân sách 2005 của nhà nước cho chương trình 322 là:
(100*3+90*2+35*0.5)*22K ~ 11 triệu USD
—————————————————
Ông Phạm Sỹ Tiến, Trưởng ban điều hành đề án Đào tạo cán bộ KHKT tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án 322- Bộ GD-ĐT), cho biết:
- Số lượng học bổng gửi đi đào tạo nước ngoài bằng ngân sách năm 2005 ít hơn các năm trước, chỉ tuyển 225 thí sinh (TS), trong đó 100 đào tạo tiến sĩ, 90 đào tạo thạc sĩ, 35 cử đi thực tập khoa học dưới sáu tháng. Chỉ tiêu tuyển sinh ít đi vì kinh phí được cấp eo hẹp hơn các năm trước.
Tuy nhiên bù vào đó, Bộ GD-ĐT đã cho phép 14 chương trình phối hợp đào tạo tiến sĩ và ba chương trình phối hợp đào tạo đại học ở một số trường ĐH tham gia đào tạo theo đơn đặt hàng của đề án 322. Năm 2005, các đề án phối hợp đào tạo sẽ tuyển 280 TS được nhận học bổng ngân sách, gồm 80 tiến sĩ, 100 thạc sĩ và 100 học bổng bậc ĐH, thực hiện đào tạo từ 1-2 năm tại Việt Nam, thời gian còn lại cử đi đào tạo tại các cơ sở đối tác nước ngoài.
Và cuối cùng, đề án 322 sẽ giới thiệu và tìm cơ sở đào tạo nước ngoài cho TS đã trúng tuyển, sẽ khống chế mức học phí tối đa là 20.000 USD/năm. Trên mức đó TS phải đóng góp trả phần trội. Vì vậy, năm nay TS phải cân nhắc kỹ khi đăng ký nước đến học. Tuy nhiên mức sinh hoạt phí năm 2005 cho TS của đề án 322 đã được tăng 10%.
+)Đề án 322 dự kiến sẽ cấp khoảng 50 học bổng đào tạo bậc ĐH ở nước ngoài. Ngoài ra còn có thêm 100 suất học bổng đào tạo ĐH tại các chương trình phối hợp giữa một số trường ĐH trong nước với các cơ sở đào tạo nước ngoài. Đối với học bổng cử đi đào tạo toàn phần ở nước ngoài có ba đối tượng và phương thức tuyển sinh: tuyển các sinh viên đang học năm thứ nhất tại các trường ĐH trong nước đạt kết quả học tập xuất sắc, các HS đạt kết quả xuất sắc trong đợt thi tuyển sinh ĐH năm 2005 và xét cấp học bổng bán phần cho một số HS tốt nghiệp THPT xuất sắc tại nước ngoài.
Viết bởi Sonnet
Còn chi phí cho cái gọi là chương trình phối hợp đào tạo của 322 thông qua các trường ĐH trong nước chưa đến 10 triệu USD, và VN cũng không phải chi hết cho các chương trình ĐT ở NN nói trên mà thông qua các hiệp định song phương ký kết với NN, chỉ phải chi 1 phần trong tổng số đó.
Tóm lại, ý chính mà tôi muốn đề cập là giả sử có chuyện đổ biển thì cũng chỉ nên giới hạn nói đến cái chương trình 322 của Bộ GD-ĐT với chi phí từ ngân sách ra mà thôi, chi phí cho nó là 15-20 triệu USD hàng năm. Trước hết phải nhìn nhận vấn đề gửi du học sinh là vấn đề đầu tư, mục đích cuối cùng của mọi đầu tư phải là mutual benefits. Chuyện tư nhân đầu tư cho du học NN của con em mình hoặc các tổ chức NN đầu tư cho chuyện đó, mà nói đến chuyện “đổ biển” thì e là hơi ấu trĩ. Hiện tượng tư nhân gia tăng đầu tư cho du học NN cần được xem là dấu hiệu tốt, còn hiện tượng chính phủ gia tăng ngân sách cho những chương trình như thế thì …. không nhất thiết. Cái mà chính phủ, các cơ sở nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp ở VN cần phải làm là biết tận dụng các khoản đầu tư nói trên của tư nhân và của nước ngòai bằng nhiều cách eg. hút những cá nhân xuất sắc nhất về làm việc, để có “ambassadors” quảng bá cải thiện hình ảnh VN với thế giới, xúc tiến đầu tư hay thương mại, R&D, etc. – đơn giản có nghĩa là không mất kinh phí đầu tư mà vẫn có đủ đ/k về con người để phát triển. Còn nếu chính phủ trực tiếp chi ngân sách cho những chương trình như vậy, tuyển chọn những cá nhân kém chất lượng nhưng có “quan hệ tốt”, rồi những ng gửi đi đào tạo về nước để được ngồi chơi không dùng đến, v.v. thì quả là …. đổ biển. Thực sự, ngòai những hiệp định song phương, không cần thiết những chương trình như thế.
Viết bởi Sonnet
Xin bổ túc hai bài báo nữa từ Tuổi Trẻ: “Tiến sĩ làm nhập liệu, thông dịch, sao giữ được người tài ”, và “Trăn trở của một du học sinh“
Tôi có thắc mắc về một chi tiết của bài số 2: một anh tiến sĩ nào đó làm ở công ty 10 năm, không chuyển đi được vì “lãnh đạo không cho”. Tôi không hiểu điều này thực sự có thể xảy ra về mặt luật pháp không?
Tác giả cũng đề cập đến việc “có học bổng nhưng lãnh đạo chưa ký cho đi”. Có cơ sở pháp lý cho việc này không?
Viết bởi Ngô Quang Hưng
1)Ở VN một công chức để có thể chuyển việc giữa 2 cơ quan nhà nước, ngòai sự đồng ý tiếp nhận của cơ quan mới, cần có sự đồng ý của truởng đơn vị mình đang công tác cho chuyển việc. Nếu chủ đơn vị đang công tác không đồng ký cho đi (bịa ra 1 lý do nào đó, vd. thiếu ng chẳng hạn) thì không thể chuyển việc được. Tất nhiên công chức đó có thể xin thôi việc, lúc đó chủ đ/v bắt buộc phải ký, và xin ký hợp đồng làm việc với cơ quan mới, rồi sau đó qua thời gian thử thách, có thể lại thi vào công chức trong cơ quan mới – nếu họ mở cửa nhận thêm công chức. Rất tiếc cách này thì rất thiệt vì lương lại quay về khởi điểm, thâm niên có khi cũng vậy.
2) Để có thể có học bổng ngân sách thì cần lãnh đạo cơ quan đồng ý cho đi học, còn với học bổng tự túc thì không cần. Tuy nhiên nếu chủ đơn vị không đồng ý cho đi mà cá nhân vẫn đi ra NN làm nghiên cứu, thì ng ta sẽ coi cá nhân đó bỏ việc. Khi về nước sẽ lại phải, bắt đầu lại từ đầu.
Duy cả hai tình huống có thể sảy ra, nhưng bài viết (nr 2) có vẻ không trung thực. Nhiều ví dụ được đưa xem ra không thật chút nào.
Viết bởi Sonnet
Giờ mới biết là anh Hưng có 1 số bài liên quan đến “về hay ở”. Hay là anh cố gắng làm 1 loạt bài về cái này (ngoài anh có thể kêu gọi thêm các thành viên khác của blog hoặc kể khách thăm)? Thêm nữa, ta có thể lập 1 danh sách các phân tích có giá trị về việc này (chứ trên báo chí VN nhìn chung ko có giá trị lắm). Những điều này sẽ giúp DHS có 1 cái nhìn toàn cảnh hơn về các thuận lợi / thách thức đang chờ đợi mình, để quyết định “về hay ở” được chính xác hơn.