Thư viện bài tháng 07 năm 2005

Cisco và Michael Lynn, bạn về phe ai?

Ngô Quang Hưng | 30 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Michael Lynn là nhân viên cũ của công ty Internet Security Systems. Tại hội nghị bảo mật mũ đen (black hat security conference) ở Las Vegas thứ tư vừa qua, Michael trình bày một phương thức tấn công các routers của Cisco chạy hệ điều hành Internetwork (IOS). Bài báo cáo của anh có tên gọi: “Cisco IOS Security Architecture”. Lỗi chính của IOS vẫn là một lỗi tràn bộ đệm kinh điển (cả stack lẫn heap). Nếu bọn phá phách dùng phương pháp này thì có thể nói không ngoa là đa phần Internet sẽ chết ngoẻo củ tỏi.

Cisco tìm cách kiện ngay Michael, và cuối cùng Michael và hội nghị này đồng ý không phát tán rộng rãi bài trình bày của Michael và bỏ nó ra khỏi proceedings của hội nghị. Trong thời gian đó, dĩ nhiên Cisco sẽ cố hết sức lấp lỗ hổng này càng nhanh càng tốt.

Bạn đứng về phía ai? Một nhà nghiên cứu bảo mật có quyền trình bày các tìm kiếm của mình nếu kết quả này có thể gây tác hại nghiêm trọng cho Internet (hay cái gì khác) hay không? Phổ biến các expoits là một trong những phương thức tốt nhất làm cho các phần mềm có tính bảo mật cao hơn. Hầu hết các phần mềm mã nguồn mở đều chữa bugs theo cách này. Nghiên cứu khoa học luôn dựa trên sự chia xẻ thông tin. Vụ này làm tôi liên tưởng đến PKC và những ngày đầu của PKC.

Chủ đề: Bảo mật và mật mã học & Nhân vật và sự kiện | Bình luận (3) »

Bạn và nghiên cứu của bạn

Ngô Quang Hưng | 29 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

You and your research” là tên một bài phát biểu của cố giáo sư Richard Hamming trong một seminar ở Bell Labs ngày 7 tháng 3 năm 1986. Tôi tình cờ tìm được bài này khoảng 6, 7 năm trước trên net. Đọc xong rất thích nhưng rồi quên béng đi mất. Gần đây tiến sĩ Suresh nhắc lại bài này trong blog của anh.

Hamming đặt câu hỏi rất cơ bản: “tại sao có một số nhà khoa học làm được những việc vĩ đại, phần còn lại thì thường là đi vào quên lãng?” Tôi tóm tắt lại 10 luận điểm chính:

  1. Phải chăng do may mắn? Tất nhiên là không. Ít nhất là không chỉ có may mắn. Pascal từng nói: “may mắn thích những bộ óc có chuẩn bị” (lucks favor prepared minds). Các bộ óc vĩ đại thường làm được nhiều việc vĩ đại. Shannon có bao nhiêu đóng góp quan trọng cho lý thuyết thông tin, không thể có ai may đến thế được.
  2. Phải chăng họ có nhiều não hơn người thường? Nhiều người có IQ cực cao nhưng không làm được gì vĩ đại lắm.
  3. Một trong những cá tính quan trọng nhất là lòng dũng cảm. Dũng cảm đi các con đường mà người khác không dám đi (khó quá, tốn thì giờ quá, …).
  4. Tuổi tác đóng vai trò quan trọng. Newton, Galois, Abel là các ví dụ kinh điển. Ngoài ra, khi đã nổi tiếng người ta thường có xu hướng đi tìm các bài toán khó nhất để “xứng đáng” với tên tuổi của mình. Xu hướng này là một sai lầm nghiêm trọng. Cây ý tưởng lớn phát triển từ vài nhánh rễ nhỏ bé. Ông cho rằng viện toán lừng danh IAS làm thui chột nhiều tài năng, vì nó nhận vào các tài năng vĩ đại, và cho xuất xưởng các tài năng lớn.
  5. Điều kiện làm việc cũng là yếu tố trọng yếu.
  6. Sự kiên trì mang lại cho ta những thành tựu đáng kinh ngạc.
  7. Luôn đặt câu hỏi: “các vấn đề quan trọng nhất trong ngành của mình là gì?” Nếu bạn không tìm cách giải các bài toán quan trọng thì các kết quả của bạn khó có thể quan trọng được. Điều này có vẻ hơi mâu thuẫn với điều số 4. Ông nhấn mạnh sự cân bằng giữa hai điểm này.
  8. Các nhà khoa học vĩ đại đấu tranh vượt qua hệ thống hiện tại, thay vì làm việc với hệ thống đang có và làm cái tốt nhất trong vòng kiềm tỏa của nó.
  9. Tìm mặt tốt của sự việc thay vì mặt xấu. Sống và làm việc lạc quan!
  10. Biết mình biết người.

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Nghiên cứu nghiên kiếc & Nhân vật và sự kiện | Bình luận (3) »

AAAI 2005

Đỗ Bình Minh | 27 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Cách đây vài tuần tôi có đi hội nghị AAAI 20005 ở Pittsburgh. Đây là một trong hai hội nghị về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI) lớn nhất năm nay (cùng với IJCAI tại Edinburgh). Vì ở gần CMU nên đầy nhóc robots. Người được mời phát biểu chính lần này là Marvin Minsky, một trong những cha đẻ của ngành AI. Không như những người cùng thời hoặc đã mất (Herbert Simon, Allen Newell) hoặc đi lại đã rất khó khăn (John McCarthy). Marvin Minsky còn rất nhanh nhẹn, nói chuyện hài hước, đánh đàn piano và thử segway trong suốt thời gian hội nghị. Trong suốt vài tuần trước khi đến hội nghị, ông vẫn viết quyển The Emotion Machine mà bản draft có thể đọc ở homepage . Tự nghĩ không biết đến khi mình gần 80 tuổi có còn được lạc quan và nhiệt huyết làm nghiên cứu được như vậy nữa không. Trong bài phát biểu của Marvin, tôi nhớ có nói đến chuyện sự họat động của bộ não thường được so sánh với kỹ thuật tiên tiến nhất của thời đại đó (máy bắn đá thời trung cổ chẳng hạn) và ông nghĩ là máy tính chưa chắc đã phải là công cụ để mô phỏng sự họat động của bộ não một cách tốt nhất, có lẽ cần một theory mới và lấy ví dụ về neocortex. Tôi cũng không hiểu lắm là Marvin muốn nói cụ thể theory nào (vì không phải là neuroscientist) nhưng đồ rằng ông nhắc tới theory của Jeff Hawkins trong quyển sách On Intelligence.

Trong bài phát biểu của Ron Brachman, chủ tịch mới của American Association for Artificial Intelligence, có một câu trong phần kết là “trên lý thuyết, lý thuyết và thực tế là như nhau. Trên thực tế thì không phải như vậy”. Vài năm trước đây nghe câu này chắc tôi chẳng để bụng làm gì, nhưng bây giờ thì cũng bắt đầu đồng cảm với điều đó.

Chủ đề: Các hội nghị KHMT | Bình luận »

Blogging từ Việt Nam

Ngô Quang Hưng | 27 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Connection rất chậm, nên tôi không dông dài được:

  • Cơ sở hạ tầng Internet còn rất xa mới phục vụ được mục tiêu biến thành cường quốc về out-sourcing. Tốc độ ADSL ở mấy quán dịch vụ Internet chậm rì rì. Đại Học Bách Khoa tpHCM chỉ có vài IP’s và cả trường phải chui qua mấy cái proxy servers đó. Chỉ có vài công ty to đùng mới có hy vọng mua dedicated leased line làm out-source, mà có tiền chưa chắc đã mua được vì chính trị chính em.
  • Cái thông tư liên bộ về quản lý dịch vụ Internet làm tôi liên tưởng ngay đến vụ định cấm Karaoke hồi nào. Thậm chí còn tệ hơn gấp bội.

    Cái thông tư này không nói gì về khách ngoại quốc nhỉ? Họ có cần trình passport khi dùng Internet công cộng không? Tôi đi Hồng Kông, ra Internet cà fê check emails, viết papers, sắp xếp tỉ việc, tiện lợi vô cùng.

    Cái hay của Trung Quốc thì không bắt chước, bắt chước vụ này làm gì hả các bác?

  • Sài Gòn quả là định nghĩa của sự sôi động. Lạm phát: trường dạy Anh Văn, vi tính, người, xe hơi, quán cà fê, quán nhậu. Lạm phát về số nhưng thiếu chất khủng khiếp. Thảo nào người ta càm ràm là out-sourcing ở VN giá rẻ nhưng chất lượng thấp. Trường thì nhiều, thầy giỏi thì như lá mùa thu. Sinh viên bơi.

Chủ đề: CNTT các nước và VN & Chính trị trong ngành | Bình luận (5) »

Hackers và họa sĩ

Ngô Quang Hưng | 26 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Tiến sĩ Paul Graham viết một quyển sách với tựa đề “Hackers và họa sĩ”. Quyển sách bao gồm 15 essays về nhiều khía cạnh khác nhau của KHMT như: tinh thần dân lập trình, hackers và họa sĩ, làm giàu như thế nào (kiểu Bill Gates), spamming, ngôn ngữ lập trình, thiết kế và nghiên cứu, vân vân.

Bạn có thể xem thử một essay trong quyển sách. Essay này có đề cập đến tên gọi của môn KHMT và cái nhìn của Paul về vấn đề này. Mặc dù không hoàn toàn đồng ý với Paul, nhưng tôi thích cách viết hài hước của anh. Quyển sách rất thú vị!

Chủ đề: Giới thiệu sách | Bình luận »

Bill Gates hội thảo với Maria Klawe

Ngô Quang Hưng | 20 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Giáo sư Maria Klawe hiện là Dean of Engineering and Applied Sciences của trường Princeton. Hôm 18/7 bà có buổi nói chuyện với Bill Gates ở Microsoft Research Faculty Summit, 2005. Chuyện liên quan đến tình hình funding cho khoa học máy tính ở Mỹ như đã viết (bài 1, bài 2).

Cuộc nói chuyện có nhiều chi tiết thú vi. Các bạn xem thử.

Chủ đề: CNTT các nước và VN & Nhân vật và sự kiện | Bình luận »

Bài báo khoa học vs. bằng phát minh

Đỗ Bình Minh | 19 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Khi còn học cao học, điều quan tâm duy nhất của tôi khi làm nghiên cứu là viết báo, càng ở hội nghi lớn càng tốt, càng nhiều càng tốt. Bây giờ bắt đầu đi làm ở PARC thì ngòai chuyện quan tâm tới viết báo còn phải nghĩ đến chuyện đăng ký bằng phát minh. Không giống như các trung tâm nghiên cứu phi lợi nhuận hoặc thuộc trường đại học như là SRI, ISI v.v. PARC sau khi đã bỏ lỡ các cơ hội bảo vệ các bằng phát minh lớn của mình như GUI, Ethernet etc đã chú ý rất nhiều đến chuyện đăng ký thật nhiều các sáng chế của mình. Thực tế là nếu có thể kiếm được thật nhiều tiền nhờ vào việc cho các công ty khác dùng lại các phát minh của mình thì nhân viên càng đỡ phải tốn thời gian vào việc đi chạy chọt xin tiền từ các tổ chức chính phủ như DARPA, NASA hoặc các công ty khác v.v. và có thể yên tâm tập trung vào các vấn đề nghiên cứu lớn và lâu dài hơn (như Bell Lab và PARC hồi mới thành lập).

Trên bề mặt thì bằng phát minh cũng chẳng khác gì bài báo lắm, cũng cần phải là cách giải quyết mới cho một vấn đề hữu ích, tốt hơn các cách giải quyết đã có và có thể đem lại lợi ích cụ thể nào đó. Như vậy mới có hy vọng có nhiều người dùng dẫn tới công ty có thể thu lại lợi nhuận từ đó (khi viết báo thì có nghĩa là có nhiều người đọc, cite bài báo dẫn tới sự nổi tiếng cho người viết). Vì vấn đề cốt lõi đều giống nhau là một phát kiến mới hữu ích, sau khi công ty đã đăng ký bản quyền, nhân viên ở chỗ tôi có thể viết báo thỏai mái dựa miễn là các vấn đề cơ bản có thể kiếm được tiền đã được công ty đăng ký đầy đủ (thế nên có một thủ thuật để được viết bài mà không bị làm khó dễ là tự mình cãi là cái mình làm tuy “hay hay” và có cống hiến về mặt khoa học nhưng chẳng có thể kiếm được một xu nào từ đó và không đáng bỏ tiền thuê luật sư đăng ký bản quyền).

Mặc dù trên phần nổi thì giống nhau còn mục đích thì hòan tòan khác nhau, các bài báo khi đã đăng thì các kiến thức trong đó (nếu chưa đăng ký bản quyền) hòan tòan được dùng thỏai mái còn bằng sáng chế là để kiếm tiền từ những ai dùng nó, hoặc là để không cho các đối thủ cạnh tranh dùng nó, có thể thấy sự quan tâm và coi trong hai cái này thay đổi rất nhiều từ tầng lớp academia xuống tới những công ty trực tiếp chế tạo ra sản phẩm. Trong khi các thầy giáo và học sinh chỉ chú ý tới đăng báo (trừ khi có ý định mở công ty), xuống tới làm nghiên cứu như tôi mặc dù viết báo là quan trọng nhất đã phải chú ý tới việc đăng ký bản quyền là tài sản của trung tâm nghiên cứu, xuống tới các trung tâm khác thuộc vào một công ty làm ra sản phẩm cụ thể, nhiều khi họ chỉ quan tâm tới đăng ký bản quyền càng nhiều càng tốt chứ không coi trọng lắm tới việc viết báo vì chất lượng và số lượng bằng phát minh ảnh hưởng tới thu nhập và thưởng nhiều hơn là bài báo vì nó đem lại lợi ích cụ thể chứ không phải gián tiếp như viết báo. Nếu sáng chế là cốt lõi của một sản phẩm quan trọng của công ty thì nhiều lúc đăng ký bản quyền vẫn không phải là phương pháp tốt nhất vì: (1) khi đã đăng ký bản quyền, phát minh sẽ được cho vào cơ sở dữ liệu mà những ai bỏ tiền ra mua dịch vụ của những công ty như MicroPatent cũng có thể tìm ra (để tránh không đăng ký bản quyền trùng lặp), do đó Dell hòan tòan có thể giao cho một người suốt ngày tìm kiếm các đăng ký mới của HP để tìm hiểu hướng phát triển của đối thủ để có cách đối phó; (2) khi đã biết một phát kiến mới của đối thủ, công ty có thể tìm cách làm một cái “tương tự” mà luật sư có thể cãi là hòan tòan mới. Do đó thành phần nước CocaCola không được đăng ký bản quyền mà được cho vào két sắt nhà băng để không có hãng XYZ nào đó pha chút muối hay đường vào và cãi là phát kiến hòan tòan mới của họ.

Ngòai ra, bằng phát minh hay đăng ký bản quyền thường được viết bởi luật sư, người mà có rất ít kiến thức về chuyên ngành cụ thể, nhưng rất biết cách viết làm sao để có thể ứng dụng rộng nhất mà lại chặt chẽ về mặt luật pháp, do đó cùng một phát kiến mà trong bản đăng ký phát minh và bài báo hội nghị trông có khi đã rất khác nhau vì viết bởi những người khác nhau, cho đối tượng đọc khác nhau, và có mục đích khác nhau.

Chủ đề: Nghiên cứu nghiên kiếc | Bình luận »

Bài toán tháp Hà Nội

Đỗ Bình Minh | 16 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Theo tôi đây có lẽ là bài toán gắn với một từ tiếng Việt đựợc biết nhiều nhất. Bài toán này như sau: Cho ba cái cọc với 2 cọc trống và 1 cọc có n đĩa với cỡ khác nhau được xếp từ thấp lên cao, chuyển hết đĩa qua một cọc trống với điều kiện không bao giờ được xếp một đĩa lên một đĩa khác nhỏ hơn. Một tên khác ít được gọi hơn là Tháp Brahma (do đó tôi vẫn chưa hiểu tại sao từ Hanoi lại được dùng với bài toán này).

Mặc dù bài toán này được giới thiệu bởi nhà toán học Edouard Lucas vào năm 1883 và thuật toán tìm ra cách giải tối ưu được tìm ra rất sớm, tháp Hà Nội vẫn được dùng thường xuyên trong các quyển sách toán và tin học như một ví dụ điển hình. Ngoài ra, vẫn có nhiều nhà toán học tìm cách giải các vấn đề liên quan tới bài tóan này, và tháng 9 năm nay sẽ có môt hội nghị đầu tiên về tháp Hanoi và các vấn đề liên quan. Một số điểm thú vị về bài toán tháp Hanoi:

1. Đây là một ví dụ rất tốt trong việc giới thiệu thuật tóan đệ quy (recursive algorithm) vì thuật toán đệ quy giải bài này tương đối đơn giản (và đã được chứng minh là cho lời giải tối ưu). Nó cũng là một ví dụ tốt cho các thuật toán có thời gian mũ (exponential time algorithm) vì mặc dù thuật toán để giải bài này đơn giản, lời giải cho n đĩa sẽ cần tới 2^n lần chuyển đĩa. Do vậy, dù với số lượng đĩa không lớn, máy tính sẽ cần một lượng thời gian rất lớn để có thể cho câu trả lời cuối cùng. Không có cách gì để làm tốt hơn, kể cả có nhiều processors để chạy song song cùng giải bài toán này.

2. Mặc dù đã chứng minh được số lượng chuyển tối thiểu cho ba cột, những biến thể của bài toán này với số cột bằng 4 hoặc hơn lại chưa chứng minh được. Mặc dù chưa chứng minh được, thuật toán được cho rằng sẽ đưa ra số lượng chuyển nhỏ nhất cho 4 cột đã được kiểm tra bằng máy tính đến 21 đĩa dùng những thuật toán tìm kiếm (search) mới nhất. Con số 21 mới nhìn thật nhỏ, điều đó càng cho thấy sự khối lượng tính toán khổng lồ liên quan tới bài toán này.

Trên web có vô khối trang webs dành cho bài toán này, tôi thấy mấy trang sau có vẻ hay Wikipedia, Mathworld, Hanoimania, và đây.

Chủ đề: Thuật Toán & Vui - Giải Trí | Bình luận (4) »

Giáo sư Lofti Zadeh, thuyết mờ, và con đường đi đến một trí tuệ nhân tạo

Nguyễn Xuân Long | 14 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Hôm nay tôi nhân được một email quảng cáo của một hội nghị sắp tới được tổ chức để kỷ niệm những công hiến của giáo sư Lofti Zadeh , cha đẻ của lý thuyết mờ (fuzzy sets and fuzzy logic).

Trước khi Zadeh xuất bản công trình đầu tiên về lý thuyết tập mờ vào năm 1965, ông đã là một trong những nhà nghiên cứu tên tuổi nhất ở Mỹ trong ngành điện tử, xử lý tín hiệu, lý thuyết hệ thống, v.v. Ông chính là người sáng tạo ra phương pháp z-transform cho tín hiệu rời rạc, là một trong những người đặt nền móng cho lý thuyết state-space cho linear systems mà chúng ta được học trong những sách giáo khoa về signal and systems, phát triển lý thuyết dự đoán của Wiener. Chỉ nhờ những cống hiến của những năm 1950 của Zadeh cũng đủ để người ta nhắc đến ông như những ông tổ của signal processing, cùng với những Claude Shannon, Richard Bellman hay Nobert Wiener.

Từ năm 1965 trở đi, Zadeh cống hiến toàn bộ sức lực của mình vào phát triển lý thuyết tập mờ, logic mờ và ứng dụng của chúng trong lý thuyết điều khiển, hệ thống và trí tuệ nhân tạo. Zadeh tin rằng lý thuyết mờ chính là ngôn ngữ chủ đạo, là một chìa khóa quan trọng để giúp cho chúng ta mở cửa lâu đài bí ẩn Trí tuệ nhân tạo mà Turing đã
gõ cửa giúp.

Về sự đón nhận của giới hàn lâm (academics) với lý thuyết của Zadeh thì có nhiều tranh cãi. Nói chung giới nghiên cứu về signal processing cũng như giới nghiên cứu trí tuệ nhân tạo ở Mỹ thì rất lạnh nhạt. Những người làm về xác suất và thông kê thì nhún vai, cho rằng lý thuyết mờ có thể xây dựng trực tiếp từ nền tản của lý thuyết xác suất đồ sộ và lâu đời hơn. Mặc dù vậy, ở châu Âu, Nhật bản và các nước khác thì nghe nói phong trào nghiên cứu về lý thuyết mờ và ứng dụng của chúng phát triển rất mạnh. Có một vài bloggers ở đây là chuyên gia về lĩnh vực này.

Với những người ngoại đạo, thì chúng ta có thể thấy chữ fuzzy xuất hiện trên các máy giặt của Nhật bản và Hàn Quốc. Vài năm trước khi về thăm nhà, tôi còn được giới thiệu một cuốn sách nghiên cứu về Kinh Dịch bằng lý thuyết tập mờ của giáo sư vật lý Hoàng Phương. (Cách đây vài năm báo chí ở Mỹ hay nhắc đến chữ fuzzy math của Bush, nhưng có lẽ Bush không biết mình nói gì :-).

Là một học trò của ngành trí tuệ nhân tạo (TTNT), thỉnh thoảng vẫn thấy Zadeh đi đến office hay ra quán cafe, nhưng tôi thú thật cũng không hiểu biết gì nhiều về lý thuyết mờ. Đó là kết quả của sự giáo dục chính thống về trí tuệ nhân tạo trong suốt 50 năm qua, hầu như bỏ lý thuyết này ra ngoài. Điều thú vị là giáo sư Stuart Russell, tác giả của quyển sách giáo khoa nhập môn TTNT rất hợp thời trang hiện nay, người vẫn coi Zadeh là một mentor, cũng không phải là một người theo đuổi quan điểm của Zadeh về TTNT. Hai ông này có hai offices ở ngay cạnh nhau.
Ở trong khoa Electrical Engineering and Computer Science ở Berkeley, Zadeh luôn là một nhân vật được tất cả mọi người kính trọng. Nhưng ông luôn là một nhà tiên phong cô đơn ở đây. Một giáo sư về signal processing trong khoa từng nói với tôi: “Trước năm 60 thì Zadeh là thần đồng, còn sau đó ông ấy là một tên điên khùng”.
Điều đó cho ta thấy sự tiếp nhận của giới mainstream trong ngành với Zadeh còn nhiều trắc trở thế nào.

Tại sao lý thuyết của Zadeh lại có một lịch sử trắc trở như vậy, với dân làm về signal processing, hay dân làm về xác suất thống kê, thì tôi không biết nhiều để suy đoán. Tuy nhiên trong ngành TTNT, thì có lẽ ta đã có thể kết luận được vài điều. Khi Zadeh xuất bản những ý tưởng đầu tiên về tập mờ với hy vọng nó sẽ là một ngôn ngữ cho TTNT, ông đã đi trước TTNT ít nhất 20 năm. Khi ấy những ông tổ của TTNT, như John McCarthy, Herbert Simon , Alen Newell đang còn đắm chìm trong sức mạnh tính toán của máy tính và vẻ đẹp và sức mạnh của ngôn ngữ logic toán học. Họ cho rằng logic hy vọng sẽ là ngôn ngữ thích hợp nhất để xây dựng TTNT. PhảI đến hơn 20 năm sau, người ta mới nhận ra rằng mặc dù logic có thể là ngôn ngữ hữu hiệu để computers có thể biết chơi cờ và suy luận rất … logic, nhưng lại rất hạn chế trong những lĩnh vực đòi hỏi sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài, với tín hiệu (signal), với số liệu (data). Zadeh, với những kinh nghiệm nghiên cứu về signal và systems từ những năm 1950 đã nhận ra hạn chế của logic từ lâu. Nhưng trong hơn 3 thập niên từ những năm 1960 cho đến hết những năm thập niên 80, giới nghiên cứu TTNT ở Mỹ chịu sự thống trị của trường phái của McCarthy, Simon hay Newell, và những thế hệ học trò của ông.

Ngày nay, người ta nhận ra rằng để giúp cho computers có những khả năng để vượt qua được thử thách của Turing, có lẽ cần cả ngôn ngữ logic và ngôn ngữ xác suất. (Và cả fuzzy logic nữa, nếu bạn không sống ở xứ sở của bánh mì kẹp thịt McDonald). Có rất nhiều thành tựu vượt bậc trong việc phát triển các thuật toán và hardware về chơi cờ, nhận dạng, xử lý âm thanh, hình ảnh, hay ngôn ngữ. Nhưng chúng ta sẽ đạt được TTNT hay không? Đâu là những cơ chế nền móng nhất để có thể tạo ra được một cái gọi là TTNT? Đâu là ngôn ngữ thống nhất của một hệ thống có TTNT? Những hiểu biết của chúng ta về computation, logic và probability có đủ không, hay chúng ta phải cần cả sự trợ giúp của cả neuroscientists, molecular biologists, và physicists nữa? Hay chúng ta nên định nghĩa lại khái niệm TTNT, với sự trợ giúp của những nhà triết học? Hay chúng ta cứ khai triển thêm trên cơ sở thử thách của Turing, để xây dựng máy tính có thể vượt qua những thử thách chông gai đó trước đã?

Có quá nhiều câu hỏi mà hình như ngày nay, chúng ta vẫn không biết hơn là bao so với Turing của những năm 50 của thế kỷ trước. Để có thể tiến tới gần những câu trả lời, ngành KHMT chắc chắn phải cần thêm nhiều nhà khoa học tiên phong và độc đáo như Lofti Zadeh.

Chủ đề: Nhân vật và sự kiện & Trí tuệ nhân tạo | Bình luận (2) »

Các bài báo kinh điển của KHMT (5)

Ngô Quang Hưng | 12 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Trong một bài viết trước đây, tôi có ghi lại một phát biểu của Alan Turing: “Tầm mắt của chúng ta chẳng xa gì lắm, mà ta đã thấy bao nhiêu việc để làm.” Phát biểu này nằm ở cuối bài báo sau:

Turing, A.M. (1950). Computing machinery and intelligence. Mind, 59, 433-460.

Đây là bài báo mà Turing đề ra phép thử Turing cho sự thông minh của máy tính. Phép thử Turing đại khái như sau: để một máy tính “thông minh” và một người thật giao tiếp (dùng một instant messenger chẳng hạn) với một nhân viên thẩm vấn. Nếu nhân viên thẩm vấn không phân biệt được người và máy thì có thể kết luận máy đó thông minh. (Có thể phải làm phép thử nhiều lần để tăng độ tin cậy.)

Đến nay, phép thử Turing vẫn là một trong những thách thức quan trọng nhất của ngành trí tuệ nhân tạo. Chỉ tính về mặt triết học, có nhiều nhà nghiên cứu đã phê bình phép thử này: nó quá mạnh, quá yếu, không thử được cái gọi là “thông minh”, thậm chí “thông minh” vẫn chưa có định nghĩa thống nhất, vân vân.

Một vài ví dụ thú vị về các lý luận, sách vở xung quanh phép thử Turing bao gồm:

Trong bài báo này, thật ra Turing còn gợi ý giả thuyết mạnh hơn rằng các chức năng của não mang tính tính toán được (computable), và vì thế có thể mô phỏng bằng máy điện toán. Ngoài ra, ông đặt tiền đề cho ngành machine learning ở đề mục cuối của bài.

Tôi chú ý đến vài dòng cuối cùng, khi ông đưa ra hai hoạt động trí não mà máy có thể cạnh tranh với người: chơi cờ vua và hiểu+nói tiếng Anh. Các gợi ý này quả thật là viễn tri.

  • Nhận dạng tiếng nói, dù còn giới hạn, đã và đang được ứng dụng khắp nơi.
  • Đánh cờ thì không còn gì phải bàn. Vụ Deep blue chọi KasparovDeep Fritz chọi Kremnik đã thành chuyện cổ. Ngày 28 tháng 6 vừa qua, đại kiện tướng thế giới Michael Adams (số 7 thế giới, ELO 2719) bị máy tính Hydra độp tơi tả 5.5-0.5 (thua 5, hòa 1). Cuộc chiến cờ vua giữa người và máy đã đến hồi vãn tuồng. Dĩ nhiên máy tính còn một đoạn đường rất xa để đi trong cờ vây, bọn làm KHMT còn nhiều thứ để nghiên cứu; nhưng tôi không nghi ngờ gì việc máy tính sẽ thống trị cờ vây trong vòng 10 năm tới. (Xem danh sách các chương trình chơi cờ vây.)

Năm mươi lăm năm sau bài báo, chúng ta vẫn chưa đi hết tầm nhìn của Turing.

Chủ đề: Trí tuệ nhân tạo | Bình luận »

Thêm bài về “về hay ở”

Ngô Quang Hưng | 12 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Giáo dục | Bình luận (1) »

Về hay ở? Về thì đâm đầu vào đâu?

Ngô Quang Hưng | 10 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Có đề tài nào muôn thuở hơn cái song đề (dilemma) này cho các du học sinh không? Tôi có lướt qua ý này trong một bài viết vài năm trước. Mới đây, bài “250 triệu USD đổ biển mỗi năm” ở Tuổi Trẻ đặt trách nhiệm kéo chất xám về nước lên vai các nhà làm chính sách.

Tôi cần nghiên cứu kỹ hơn về tình hình du học sinh ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore trong vài chục năm trở lại đây để có thể khẳng định chính xác. (Bạn nào có nghiên cứu về đề tài này xin bình luận!) Phản ứng trực quan của tôi với bài này là: không hẳn như thế. Rõ ràng đầu tư ngắn hạn thì mất chất xám kiểu đó là lỗ, nhưng về lâu về dài thì 250 triệu USD đó không đổ biển chút nào.

Hãy lấy một cực của mệnh đề (dù làm điều này không logic lắm): giả dụ tất cả các du học sinh đều về ngay sau khi đi học. Tôi cho rằng như vậy mới là phí 250 triệu USD mồi năm. Tân thạc sĩ/tiến sĩ chưa đi làm thì vẫn chỉ có mớ kiến thức hàn lâm thiếu thực tế. Có nghìn vạn thứ để học sau khi có cái bằng: tổ chức nhóm làm việc, quá trình nghiên cứu, viết đề án, quản lý công ty, quản lý dự án, thuyết phục nhà tài trợ, vân vân và vân vân. Những thứ này khó chẳng kém quy hoạch tuyến tính hay thuật toán xấp xỉ.

Còn nữa, ta cần một (vài) thế hệ cựu du học sinh thành đạt ở nước ngoài vì ba lý do:

  • Họ truyền cảm hứng cho các thế hệ tiếp theo: người Việt mình cũng làm được nhiều việc gây tiếng vang (ví dụ 1, ví dụ 2, vân vân). Một ngày không xa sẽ có anh/chị Mít nào đó giật giải Nobel, Fields, hay Turing. Khả năng họ đạt được thành tựu này ở nước ngoài lớn hơn vạn lần ở trong nước, đơn thuần vì lý do hậu cần.
  • Một mạng lưới các giáo sư, tiến sĩ Việt Nam ở các trường đại học, phòng nghiên cứu lớn trên thế giới sẽ có tiềm năng rất cao giúp đỡ các thế hệ sinh viên về sau. Mạng lưới các managers, CFO, CIO, thậm chí CEO Việt ở các công ty hàng đầu cũng thế. Thậm chí chỉ cần một kỹ sư bình thường cũng có thể giúp nhiều cho đồng hương.
    Về mặt hàn lâm, bài viết của anh Hồ Tú Bảo trong blog này cho một ví dụ của những việc mà các chuyên gia Việt ở ngoài nước có thể (và đã) đóng góp cho Việt Nam. Ví dụ khác: tôi biết nhiều bạn bè đang giảng dạy ở các trường đại học ở Âu, Mỹ, Úc; họ [và bản thân tôi] đã và đang giúp cho nhiều sinh viên Việt Nam sang học ở nơi họ giảng dạy. Nếu không phải là người Việt, thì hoàn toàn không có lý do gì họ chọn sinh viên Việt Nam thay vì sinh viên Tàu hay Ấn. Một hồ sơ thông thường của sinh viên Việt Nam thua hồ sơ thông thường của sinh viên Tàu và Ấn nhiều (thua kém từ điểm GRE, TOEFL, đến GPA và danh tiếng của trường đại học).
  • Và tôi tin rằng, đa phần họ chẳng chóng thì chầy sẽ trở về. Về trong một vị thế có thể đóng góp ở tầm vực lớn hơn nhiều so với “về ngay” và lặn ngụp trong đống cơm áo gạo tiền. Ví dụ: khi một công ty do người gốc Việt làm chủ cần out-source thì Việt Nam là chọn lựa hợp cả tình lẫn lý.

Ngược lại, những người “về ngay” cũng đã và sẽ làm được nhiều việc hay ho. Có thể họ không được trọng dụng đúng với trình độ đã học được, nhưng phương pháp tư duy mới, tính năng động sáng tạo là những thứ giúp họ có thể thành công trong nhiều loại công việc khác nhau. Anh nào đì đẹt mãi thì không hẳn là chỉ vì “cơ chế”.

Đáng lẽ bài báo ở Tuổi Trẻ nên so sánh với cả việc không cho ai đi học hết (nghĩa là không tốn 250 triệu USD một năm [sic]). Tôi cho rằng làm thế thì ta còn mất nhiều hơn gấp bội!

Nói đi thì cũng phải nói lại. Tôi hiểu ý chính của bài báo này, và đồng ý với tác giả rằng nhà nước cần có cơ chế đãi ngộ nhân tài hiệu quả hơn. Tìm cái equilibrium của về/ở không thuần túy là chọn lựa cá nhân.

Chủ đề: Dành cho du học sinh | Bình luận (6) »

Cell phones và các nước phát triển

Ngô Quang Hưng | 10 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Một bài báo mới ở tờ Economist cho biết: phổ cập cell phones đóng góp nhiều hơn phổ cập máy tính cá nhân vào tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Cứ thêm 10/100 người có cell phones thì làm tăng GDP khoảng 0.6%, theo nghiên cứu của trường business London.

Lý do chính mà phổ cập cell phones khó khăn ở các nước nghèo là vì giá sàn của cell phones vẫn còn quá đắt. Ví dụ: vẫn chỉ có 5% dân Ấn có cell phones. Nhiều nước đang phát triển lại đánh thuế rất đắt lên các cell phones. Chi tiết này làm tôi nhớ bạn bè về Việt Nam hay “phàn nàn” rằng dân SG/HN dùng cell phones hiện đại và đắt tiền quá, người ta dùng cell phones như một thứ thời trang.

Giáo sư Dan Dreznerbài viết về ảnh hưởng của công nghệ đến quan hệ nhà nước/xã hội, trong đó anh đưa ra một lý do nữa cho sự khó khăn của phổ cập cell phones ở các nước nghèo: nhiều cell phones giúp các nhà hoạt động xã hội (chống chính phủ, chống áp bức, chống tham nhũng, …) huy động lực lượng dễ dàng hơn.

Chủ đề: CNTT các nước và VN | Bình luận »

Các câu hỏi phỏng vấn [6]

Ngô Quang Hưng | 10 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

  1. (Bài toán Monty Hall) Monty Hall làm MC của một trò chơi trên truyền hình. Có ba cái cửa chắn trước người chơi. Đằng sau một trong các cánh cửa là phần thưởng. Bạn chọn một trong ba cánh cửa. Monty Hall xem đằng sau hai cánh còn lại và mở một cửa không có phần thưởng.
    Hỏi: bạn sẽ giữ chọn lựa cũ hay đổi sang cửa còn lại để lấy phần thưởng? Tại sao?
  2. Tèo yêu hai cô gái Tấm và Cám. Cả ba sống trên cùng một con đường, Tèo ở đoạn giữa. Các xe buýt đi cả hai chiều của con đường, mỗi chiều một tiếng một lần có xe buýt đến (tốc độ đều). Sáng sáng Tèo ra bến xe buýt và đón xe nào đến trước thì đi về hướng ấy. Sau một thời gian dài thì Tèo đi thăm Tấm gấp ba lần đi thăm Cám.
    Hỏi: sao lại thế được?
  3. Có hai xe tải đứng đối diện nhau, cách nhau 100km. Xe 1 có tốc độ 50km/h, xe 2 có tốc độ 30km/h, một con ruồi đậu trên mũi xe 1 bay qua bay lại giữa hai mũi xe với tốc độ 5000km/h. Cả hai xe và con ruồi đều xuất phát cùng một lúc.
    Hỏi: đến khi con ruồi bị đè bẹp gí giữa hai xe (đụng nhau) thì con ruồi bay được bao xa?

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Vui - Giải Trí | Bình luận (6) »

Các câu hỏi phỏng vấn [5]

Ngô Quang Hưng | 09 tháng 07, 2005 | Bản để in Bản để in

Có một dạo mailing list vnsa đố vui với nhau khá nhiều, tôi còn nhớ vài câu:

  1. Tí ở tầng 3, Tèo ở tầng 33 của một chung cư. Một hôm hứng chí cả hai ra ban công hét lên cùng một lúc.
    Hỏi: ai nghe thấy tiếng của người kia trước?
  2. Có 10 đồng tiền, thật có giả có. Cho một cái cân đĩa không có quả cân. Các đồng thật nặng bằng nhau, các đồng giả nặng bằng nhau và nhẹ hơn các đồng thật.
    Hỏi: cân ba lần và chỉ ra các đồng giả.
  3. Ba người cần chia một cái bánh sao cho ai cũng thỏa mãn về phần bánh của mình.
    Hỏi: tìm giải pháp chia bánh với giả thiết ai cũng tin rằng mình cắt bánh công bằng.

Chủ đề: Dành cho du học sinh & Vui - Giải Trí | Bình luận »

Các bài kế »